Teal Swan Transcripts 845
Mô thức quan hệ URS (Mô thức định mệnh của
sự an toàn vô điều kiện trong mối quan hệ)
24-10-2026
👉 Tóm tắt nội dung: Mô thức URS (Unconditional Relationship Security) là kiểu kỳ vọng sự an
toàn tuyệt đối trong một mối quan hệ trưởng thành, bất kể hành vi, nhu cầu hay
tác động của bản thân lên người khác. Mô thức này thường bắt nguồn từ những tổn
thương thời thơ ấu, khi đứa trẻ không được cha mẹ trao cho cảm giác an toàn mà
ngược lại phải đáp ứng nhu cầu cảm xúc của cha mẹ. Bài viết phân tích cách mô
thức URS hình thành, những biểu hiện trong tình yêu và cách phá vỡ nó bằng việc
xây dựng sự an toàn với chính mình, thiết lập ranh giới và các thỏa thuận rõ
ràng.
---------
Đã
đến lúc hé lộ thêm một mô thức quan hệ nữa. Gần đây, tôi nhận thấy mô thức này
xuất hiện rất nhiều, đặc biệt là ở những người thuộc thế hệ Millennials, và thậm
chí còn nhiều hơn ở thế hệ Gen Z. Tôi đặt biệt danh cho nó là mô thức URS – mô
thức an toàn vô điều kiện trong mối quan hệ (Unconditional Relationship
Security Pattern). Mặc dù đây là một mô thức hướng đến việc tìm kiếm sự an toàn
trong mối quan hệ, nhưng thực chất nó lại bảo đảm rằng sự an toàn trong mối
quan hệ sẽ không bao giờ thực sự được xây dựng.
Về
cơ bản, đây là một ngõ cụt dẫn đến chính điều mà một người đang khao khát đến
tuyệt vọng. Vì vậy, chúng ta hãy cùng đi sâu vào vấn đề này.
Mối
quan hệ mang tính vô điều kiện nhất mà chúng ta có chính là mối quan hệ với cha
mẹ mình. Ít nhất, có thể nói rằng đáng lẽ nó phải như vậy. Một đứa trẻ có mối
quan hệ an toàn với cha mẹ sẽ biết rằng cảm giác an toàn về mặt cảm xúc trong mối
quan hệ đó, mức độ vững chắc của mối quan hệ và tình cảm mà cha mẹ dành cho
mình phần lớn là vô điều kiện.
Những
điều đó không phụ thuộc vào các điều kiện như hành vi của đứa trẻ, việc chúng
có nghe lời hay làm theo khuôn mẫu hay không, việc chúng có đạt được thành tích
nào đó hay không, hoặc chúng có những sở thích, mong muốn, nhu cầu, cảm xúc hay
suy nghĩ nhất định nào hay không.
Ranh
giới về cơ bản chính là thứ định hình nên một con người. Chúng được tạo nên từ
những thành phần tạo ra cảm nhận về một cái tôi riêng biệt, chẳng hạn như cảm
xúc của tôi, suy nghĩ của tôi, nhu cầu của tôi, sở thích của tôi, những điều
tôi không thích, mối quan tâm của tôi, sự thật của riêng tôi, các giá trị của
tôi, những nguyên tắc nội tại mà tôi tự đặt ra để điều chỉnh hành động của
mình, cũng như những điều mà đối với tôi là “có” và những điều mà đối với tôi
là “không”.
Trong
một mối quan hệ lành mạnh giữa cha mẹ và con cái, ranh giới hoàn toàn có thể
cùng tồn tại với sự an toàn vô điều kiện trong mối quan hệ.
Nếu
hành vi, giá trị hoặc những sự thật cá nhân của một đứa trẻ va chạm với ranh giới
của cha mẹ, thì xung đột phát sinh từ đó không phải là một điều đe dọa đến toàn
bộ sự an toàn của mối quan hệ. Nói cách khác, giả sử đứa trẻ không muốn học đàn
piano và ném những bản nhạc xuống sàn. Việc đứa trẻ có muốn học piano hay
không, cũng như hành vi của đứa trẻ có tốt hay không, lẽ ra không được ảnh hưởng
đến việc đứa trẻ có được mong muốn hay không, có được yêu thương hay không, có
thuộc về gia đình này hay không, có được coi trọng hay không, và cha mẹ có nhìn
nhận đứa trẻ như một cá thể có giá trị hay không.
Sự
an toàn của mối quan hệ hoàn toàn tách biệt khỏi thành tích hay mức độ nghe lời
của đứa trẻ. Nền tảng vững chắc của mối quan hệ nằm ở chỗ sự an toàn ấy không
thay đổi, bất kể những điều kiện tạm thời hoặc thậm chí không hoàn toàn tạm thời
như hành vi, tâm trạng, thành tích, sở thích, những sự thật cá nhân và vô số điều
khác.
Ngoài
ra, nếu xảy ra một sự rạn nứt trong mối quan hệ, cha mẹ sẽ là người chủ động dẫn
dắt quá trình hàn gắn. Điều đó cho đứa trẻ thấy rằng tình yêu của người lớn
dành cho mình là vững chắc, từ đó biến mối quan hệ thành một nơi trú ẩn an toàn
cho đứa trẻ.
Trong
một gia đình mà cha mẹ không mang đến cho con sự an toàn trong mối quan hệ, những
ranh giới của đứa trẻ sẽ phải chịu một cái giá về mặt quan hệ. Những yếu tố tạo
nên sự an toàn trong mối quan hệ, chẳng hạn như được mong muốn, được yêu
thương, được thuộc về và được coi trọng, hoàn toàn phụ thuộc vào việc đứa trẻ
phải trở thành một người như thế nào, phải làm những gì, phải thích những gì,
cũng như phải có hoặc không được có những cảm xúc và suy nghĩ nhất định.
Cha
mẹ sử dụng chính mối quan hệ này như một đòn bẩy để buộc con phải nghe lời, trừng
phạt những sai lầm, đồng thời kiểm soát sự khó chịu về mặt cảm xúc của chính họ.
Quyền được tiếp cận tình yêu, sự an toàn và sự hiện diện của cha mẹ rõ ràng bị trao
đổi; đứa trẻ phải trả một cái giá rất đắt cho tình yêu của cha mẹ, hoặc tình
yêu ấy sẽ bị rút lại dựa trên thành tích hay hành vi của đứa trẻ tại bất kỳ thời
điểm nào. Những hình thức trừng phạt này dạy cho đứa trẻ rằng sự kết nối với
người chăm sóc mình vô cùng mong manh, không ổn định và hoàn toàn có điều kiện.
Tôi
sẽ đưa ra một vài ví dụ.
Cha
mẹ có thể rút lại sự hiện diện của mình bằng cách phớt lờ đứa trẻ, từ chối nói
chuyện với chúng hoặc chủ động rút lui về mặt thể chất trong hoặc sau một cuộc
xung đột. Điều này buộc đứa trẻ phải gánh lấy gánh nặng đáng sợ là tự mình tìm
cách khôi phục sự kết nối.
Cha
mẹ cũng có thể trao cho con sự ấm áp có điều kiện, chỉ thể hiện tình cảm, ánh mắt
yêu thương và sự nhiệt tình khi đứa trẻ thể hiện tốt, chẳng hạn như đạt điểm
cao, xuất sắc ở một lĩnh vực mà cha mẹ muốn chúng giỏi, cư xử hoàn toàn lễ
phép... Sau đó, cha mẹ đột ngột rút lại tất cả những điều đó khi đứa trẻ gặp
khó khăn hoặc cư xử không đúng.
Một
hình thức khác là làm đứa trẻ xấu hổ về bản chất con người của mình, bằng cách
biến một lỗi hành vi cụ thể thành một khiếm khuyết vĩnh viễn trong bản sắc của
đứa trẻ. Ý tôi là, thay vì chỉ nói về hành động, chẳng hạn như: “Đẩy em gái là
một việc làm xấu”, cha mẹ lại trừng phạt chính bản sắc của đứa trẻ bằng những lời
như: “Con là người xấu tính và ích kỷ.”
Làm
nhục công khai cũng là một hình thức khác. Cha mẹ sửa lỗi, chế giễu hoặc phơi
bày những điều mà họ cho là khuyết điểm của con trước mặt anh chị em, bạn bè đồng
trang lứa hoặc người lạ, nhằm buộc con phải nghe lời thông qua cơ chế của sự xấu
hổ.
Đe
dọa bỏ rơi là một hình thức khác, trong đó cha mẹ sử dụng nỗi sợ bị cô lập sâu
sắc nhất của đứa trẻ làm vũ khí bằng cách đe dọa sẽ bỏ chúng lại, gửi chúng đi
nơi khác hoặc cho người khác nuôi. Ví dụ: “Nếu con không bắt đầu nghe lời, cha
sẽ bỏ con lại đây trong cửa hàng.”
Tước
bỏ sự tiếp xúc cơ thể khi đứa trẻ đang khó chịu hoặc đau khổ. Chẳng hạn, cha mẹ
từ chối ôm hoặc bế đứa trẻ đang khóc vì họ cho rằng chính đứa trẻ đã gây ra sự
đau khổ cho mình, hoặc vì họ tin rằng đứa trẻ không xứng đáng được an ủi do
hành vi sai trái của nó.
Loại
đứa trẻ ra khỏi đơn vị gia đình. Đây cũng là một hình thức kinh điển. Cách phổ
biến nhất là yêu cầu đứa trẻ đi chỗ khác trong lúc đang có một cơn bùng nổ cảm
xúc dữ dội, hoặc khi chúng thể hiện bất kỳ sự tiêu cực nào. Ví dụ: “Vào phòng của
con đi và đừng bước ra cho đến khi con có thể cư xử dễ chịu.” Điều này dạy cho
đứa trẻ rằng những cảm xúc khó khăn của chúng khiến chúng trở thành người không
đáng được yêu thương và không được chào đón.
So
sánh tiêu cực đứa trẻ với những đứa trẻ khác – những đứa trẻ được cho là giống
với điều cha mẹ mong muốn hơn. Điều này khiến đứa trẻ nghĩ: “Ôi không, cha mẹ không
muốn mình. Họ muốn đứa trẻ kia. Vậy mình phải trở thành giống đứa trẻ đó, hoặc
phải cạnh tranh với nó, để có được sự an toàn trong mối quan hệ với cha mẹ.” Mặt
trái của điều này là so sánh tích cực đứa trẻ với những đứa trẻ khác nhằm tạo ấn
tượng rằng đứa trẻ kia là người không đáng mong muốn và không đáng được yêu
thương. Điều này một lần nữa dạy cho đứa trẻ: “Ôi không, tốt hơn hết mình đừng
trở thành như đứa trẻ đó, nếu không mình sẽ mất đi sự an toàn trong mối quan hệ
với cha mẹ.”
Rút
lại tình yêu cũng là một hình thức khác. Đây là khi tình cảm và sự hiện diện của
cha mẹ phụ thuộc vào việc đứa trẻ có nghe lời hay không, và cha mẹ sẽ rút lại
những điều đó nếu đứa trẻ khiến họ không hài lòng.
Một
hình thức khác là thể hiện những lời nói ngụ ý rằng tình cảm hoặc tình yêu của
cha mẹ dành cho con có giới hạn, chẳng hạn như: “Cha yêu con gái của cha, nhưng
có thể yêu một người mà mình không thích.” Đối với một đứa trẻ, tình yêu là một
khái niệm vô hình, nhưng được yêu thích mới là thứ tạo nên sự kết nối hằng
ngày. Đó là điều mang đến những nụ cười ấm áp, những tiếng cười cùng nhau, ánh
mắt đầy yêu thương và sự hiện diện thoải mái, thư giãn.
Nếu
cha mẹ không thích chính đứa trẻ, đứa trẻ sẽ nội tâm hóa điều đó ở tầng sâu nhất
trong con người mình. Chúng có thể tin rằng bản thân, tính cách, những nét khác
biệt và sự hiện diện của mình về cơ bản là khiếm khuyết hoặc khiến người khác
khó chịu khi ở bên.
Và
lối suy nghĩ này một cách tinh vi buộc đứa trẻ phải trả một khoản “thuế” bằng
việc phải thể hiện quá mức để trở thành một người được yêu thích. Hoặc cha mẹ
có thể nói: “Khi con cư xử như thế này, cha thậm chí không nhận ra con nữa. Khi
con như thế này, con không còn là đứa con nhỏ ngọt ngào của cha nữa.” Thông điệp
ẩn phía sau là: “Cha chỉ chấp nhận phiên bản dễ chịu và biết nghe lời của con.
Nếu con thể hiện sự tức giận hoặc đau khổ, cha sẽ phủ nhận về mặt cảm xúc phần
đó trong toàn bộ con người con.”
Hoặc:
“Nếu con định cư xử như một đứa trẻ hư ở nhà thì đừng mong cha đến xem con thi
đấu.” Thông điệp ẩn phía sau là: “Sự ủng hộ và sự hiện diện của cha trong cuộc
đời con là những đặc ân mà cha có thể chủ động sử dụng như một thứ vũ khí để buộc
con phải nghe lời.”
Tình
cảm có chọn lọc. Đây là một điều khác mà tôi không thể chịu nổi khi chứng kiến.
Cha mẹ dành cho một đứa con khác sự ấm áp mãnh liệt, những lời khen ngợi và sự
âu yếm thể chất ngay trước mặt đứa trẻ đang bị cho là có lỗi, nhằm nhấn mạnh
chính xác những gì đứa trẻ đó đang bị tước mất.
Kiểu
“đánh thuế” mối quan hệ này biến tình yêu của cha mẹ từ một quyền lợi vốn được
trao tặng tự nhiên ngay từ khi đứa trẻ sinh ra thành một loại tiền tệ mang tính
giao dịch, thứ mà đứa trẻ phải liên tục nỗ lực để cố gắng kiếm được.
Tôi
có thể viết cả một cuốn Kinh Thánh về những hành vi như thế này, tất cả đều cộng
lại để cho thấy cha mẹ đang truyền đạt rằng thực tế không hề có sự an toàn nào
trong mối quan hệ. Nhưng chắc bạn đã hiểu được ý chính rồi. Vì vậy, chúng ta
hãy tiếp tục.
Khi
những ranh giới của một đứa trẻ, cách chúng cư xử hoặc cách chúng thể hiện
thành tích đều phải trả một cái giá trong mối quan hệ, đứa trẻ sẽ lớn lên trong
một bầu không khí mà mối quan hệ với cha mẹ hoàn toàn thiếu nhất quán và không
an toàn.
Chúng
sống trong trạng thái lo âu kéo dài về mối quan hệ và thường thích nghi theo một
trong hai cách.
Thứ
nhất là tuân phục quá mức. Hãy gọi kiểu này là “người thuận theo”. Đứa trẻ hoàn
toàn kìm nén những nhu cầu, cảm xúc và bản sắc của chính mình để hoàn thiện
hành vi của mình, nhằm ngăn cha mẹ rút lại sự kết nối. Và bằng cách này, chúng
cố gắng trở thành người có thể kiểm soát sự an toàn của mối quan hệ.
Thứ
hai là tách rời đầy thách thức. Hãy gọi kiểu này là “kẻ nổi loạn”. Đứa trẻ quyết
định rằng cái giá về mặt cảm xúc phải trả để có được tình yêu là quá cao, quá
đau đớn hoặc hoàn toàn vô ích. Vì vậy, chúng chủ động rút mình ra khỏi cha mẹ
trước, bằng cách phản kháng, hành động bộc phát hoặc thu mình lại để ở một
mình, và thường trở nên ít giao tiếp nhằm tự bảo vệ mình khỏi sự từ chối.
Dù
theo cách nào, bên trong chúng cũng bắt đầu hình thành một “bóng ma đói khát” đối
với sự an toàn trong mối quan hệ mà chúng chưa bao giờ được trải nghiệm.
Tuy
nhiên, đứa trẻ đối phó bằng cách tách rời đầy thách thức thường thức tỉnh trước
thực tế rằng điều cha mẹ mong đợi ở chúng chính là sự vô điều kiện. Đó là một
tiêu chuẩn kép, thực chất là một sự đảo ngược vai trò, trong đó đứa trẻ bị kỳ vọng
phải đảm nhận vai trò mà đáng lẽ cha mẹ mới là người phải đảm nhận.
“Cha
được phép làm hoặc không làm bất cứ điều gì, đối xử với con theo bất kỳ cách
nào cha muốn, còn con thì phải luôn tích cực, biết nghe lời, xác nhận cảm xúc của
cha, luôn hiện diện, yêu thương, biết ơn và trìu mến với cha.”
Bởi
vì chúng đã rõ ràng thức tỉnh trước mặt tối này của sự vô điều kiện, nên phần lớn
những người rơi vào kiểu đối phó bằng cách tách rời đầy thách thức sẽ không trở
thành những người trưởng thành mắc vào mô thức URS mà chúng ta đang nói đến hôm
nay.
Ngược
lại, những đứa trẻ rơi vào kiểu đối phó bằng sự tuân phục quá mức thường lớn
lên và trở thành những người trưởng thành dễ rơi vào mô thức URS trong các mối
quan hệ của mình. Điều xảy ra là chúng phát triển một mong muốn trong các mối
quan hệ, và mong muốn đó dần trở thành một kỳ vọng ngầm. Đó là mong muốn và kỳ
vọng về sự an toàn vô điều kiện trong mối quan hệ.
Mô
thức URS xuất hiện khi một người muốn và kỳ vọng có được sự an toàn vô điều kiện
trong một mối quan hệ trưởng thành, bất kể họ làm hay không làm điều gì, bất kể
họ cư xử ra sao, bất kể sự thật cá nhân của họ là gì hay không phải là gì, hoặc
dù sự thật đó có thay đổi thành bất cứ điều gì, bất kể họ muốn và cần gì, bất kể
họ quyết định mình là ai hay không phải là ai.
Nếu
đây là mô thức của bạn, thoạt nhìn có thể bạn nghĩ rằng mình muốn tình yêu vô
điều kiện, nhưng thực ra vấn đề không nằm ở tình yêu vô điều kiện. Vấn đề nằm ở
sự an toàn vô điều kiện trong mối quan hệ.
Bạn
kỳ vọng nhận được từ người kia, thường là người bạn đời, những điều mà đáng lẽ
bạn phải nhận được từ cha mẹ nhưng đã không nhận được.
Và
khi bạn bắt đầu nhận thấy những dấu hiệu cho thấy mình sẽ không nhận được điều
đó từ người kia, bạn lập tức bắt đầu chịu đựng không chỉ những mức độ lo âu sâu
sắc trong mối quan hệ, mà còn cả những cảm xúc và suy nghĩ cũ mà bạn từng trải
qua trong mối quan hệ với cha mẹ mình. Rất có thể bạn thậm chí chưa bao giờ ý
thức được điều này.
Nhân
tiện, đó là toàn bộ những cảm xúc và suy nghĩ đi kèm với khoản “thuế quan hệ” nặng
nề và cái giá nặng nề mà mối quan hệ từng buộc bạn phải trả. Chẳng hạn như việc
kìm nén nhu cầu và mong muốn của mình. Chẳng hạn như phải một mình gánh trên
vai toàn bộ áp lực duy trì sự an toàn của mối quan hệ, và sự an toàn đó phụ thuộc
hoàn toàn vào mức độ thuận theo và tuân phục của bạn đối với người kia.
Đó
có thể là cảm giác bị xâm lấn, đánh mất chính mình, cảm giác ngột ngạt, bị nuốt
chửng hoặc bị bóp nghẹt. Đó là cảm giác áp lực và nặng nề cực độ. Là cảm giác
mình không được tự do. Là cảm giác tội lỗi kéo dài. Là cảm giác đủ loại vấn đề
khác nhau, thậm chí cảm thấy cuộc sống mà mình đang sống không thực sự thuộc về
mình.
Bạn
có thể có cảm giác như mình đang ở phía đối diện với một người ái kỷ, ngay cả
khi người kia thực sự không phải là người ái kỷ.
Vấn
đề của mô thức này là sự an toàn vô điều kiện trong mối quan hệ không thể và
cũng không nên tồn tại trong một mối quan hệ trưởng thành, đặc biệt là trong một
mối quan hệ bạn đời, ngay cả khi tình yêu vô điều kiện thực sự có tồn tại. Trong
một mối quan hệ trưởng thành lành mạnh giữa hai người bình đẳng, sự an toàn của
mối quan hệ rõ ràng phụ thuộc vào sự tôn trọng lẫn nhau, sự an toàn và việc duy
trì những thỏa thuận chung.
Sự
an toàn được xây dựng dựa trên những hành vi có thể dự đoán, đáng tin cậy và an
toàn, từ đó tạo dựng lòng tin. Nó không được xây dựng dựa trên suy nghĩ: “Tôi
có thể làm hoặc trở thành bất cứ điều gì tôi muốn mà bạn không được phản ứng
tiêu cực với tôi, và điều đó cũng không được đe dọa đến cam kết của bạn đối với
mối quan hệ này.”
Bây
giờ, nếu bạn ngồi lại với kỳ vọng nằm bên dưới này, bạn sẽ dễ dàng nhìn thấy phần
bóng tối của nó và hiểu tại sao nó lại trở thành một cánh cửa mở ra cho tất cả
những điều có thể tạo nên một mối quan hệ vô cùng đau đớn, thậm chí là một mối
quan hệ mang tính lạm dụng.
Có
thêm hai yếu tố khác thường không được nhìn thấy.
Thứ
nhất, bởi vì bạn xem đây là biểu hiện tối thượng của tình yêu trong một mối
quan hệ, rất có thể bạn vẫn cố gắng làm điều này cho người kia trong mối quan hệ.
Bạn cố gắng trao cho họ sự an toàn vô điều kiện trong mối quan hệ.
Để
làm được điều đó, bạn sẽ nhận ra rằng mình phải cố gắng khiến bản thân chấp nhận
bất cứ điều gì họ làm hoặc không làm, bất kể họ cư xử như thế nào. Nhưng bạn thực
sự không thể khiến bản thân hoàn toàn ổn với điều đó. Bởi vì nỗi đau cứ tiếp tục
tích tụ, và có thể cả sự oán giận cũng ngày càng lớn lên, khiến bạn ngày càng bất
mãn với mối quan hệ.
Thứ
hai, bạn kỳ vọng từ một người khác điều mà chính bạn cũng không thực sự có khả
năng trao cho người đó.
Nếu
thực sự suy nghĩ về điều này, ngay khoảnh khắc người kia làm một điều đủ tồi tệ,
một điều mà bạn không thể vô điều kiện chấp nhận, và nhân tiện, tất cả chúng ta
đều có một giới hạn như vậy, thì theo đúng định nghĩa, bạn không thể cung cấp
cho họ sự an toàn vô điều kiện trong mối quan hệ. Chính vì vậy, kỳ vọng về một
mối quan hệ vô điều kiện thực ra lại là cách phá hủy sự an toàn của mối quan hệ.
Nếu
bạn nhận ra mô thức URS ở chính mình, có một số điều bạn có thể làm.
Điều
đầu tiên là nhận ra điều mà bạn chưa từng hoàn toàn nhận thức được về mối quan
hệ với cha mẹ mình. Bạn biết rằng mình đã không được trao cho sự an toàn trong
mối quan hệ, nhưng có lẽ bạn chưa nhận ra rằng sự an toàn vô điều kiện trong mối
quan hệ lại được kỳ vọng ở chính bạn.
Và
đây chính là một cách rất lớn mà bạn đã bị tổn thương khi còn nhỏ. Bạn cần nhìn
thấy và cảm nhận được cách các vai trò đã bị đảo ngược đối với bạn. Thay vì sự
an toàn vô điều kiện trong mối quan hệ được trao cho bạn, bạn lại bị kỳ vọng phải
trao nó cho người khác. Theo cách này, bạn bị đặt vào vai trò của cha mẹ đối với
chính cha mẹ mình.
Hãy
nhận ra những tổn thương đã xảy ra với bạn trong kiểu tương tác này, khi cha mẹ
về cơ bản đặt bạn vào vị trí mà họ có thể làm hoặc không làm bất cứ điều gì, đối
xử với bạn theo bất kỳ cách nào họ muốn, còn bạn thì phải luôn tích cực, biết
nghe lời, xác nhận cảm xúc của họ, luôn hiện diện, yêu thương, biết ơn và trìu
mến với họ.
Hãy
nhận ra sự nguy hiểm và tổn thương do sự an toàn vô điều kiện trong mối quan hệ
nói chung gây ra. Tại sao? Bởi vì điều này sẽ giúp bạn không còn say mê với ý
tưởng về sự an toàn vô điều kiện trong mối quan hệ nữa.
Bạn
sẽ thấy rằng thực ra nó đã từng làm tổn thương bạn. Nó không chỉ đơn giản là một
điều tuyệt vời, đáng yêu mà bạn chưa bao giờ được trải nghiệm. Từ đây, bạn cần
để nhận thức đó thực sự tác động đến mình.
Hãy
thừa nhận bi kịch của những gì đã xảy ra và những gì đã không xảy ra. Cho phép
bản thân đau buồn vì sự an toàn mà bạn chưa bao giờ được cha mẹ trao cho và rất
có thể sẽ không bao giờ được họ trao cho.
Và
hãy kiên quyết quyết định rằng bạn không muốn làm tổn thương một người khác
theo cách mà chính bạn đã từng bị tổn thương. Nghĩa là, bạn không muốn kỳ vọng
một người nào đó phải luôn tích cực, biết nghe lời, xác nhận cảm xúc của bạn,
luôn hiện diện, yêu thương, biết ơn, trìu mến và cam kết với bạn, bất kể bạn
làm họ tổn thương như thế nào, chỉ để đáp ứng nhu cầu của bạn về sự an toàn vô
điều kiện trong mối quan hệ.
Hai
là, hãy thực sự cam kết xây dựng sự an toàn vô điều kiện trong mối quan hệ với
chính mình, bởi đây chính là điều mà cha mẹ bạn đã phá hủy.
Hãy
nhìn lại những điều cha mẹ đã làm để phá hủy cảm giác an toàn trong mối quan hệ
mà bạn từng có với họ. Tôi muốn bạn thực sự lập một danh sách.
Bây
giờ, hãy nhìn xem bạn đang làm những điều đó với chính mình như thế nào.
Ví
dụ, cha mẹ có phán xét, chỉ trích, từ chối và rút lui khỏi bạn mỗi khi bạn mắc
lỗi hay không? Vậy hãy nhìn xem hiện giờ bạn đang làm điều đó với chính mình
như thế nào.
Cha
mẹ có quay lưng với cảm xúc, hoặc yêu cầu bạn phải kìm nén và phủ nhận cảm xúc
của mình để được ở gần họ hay không? Hãy nhìn xem hiện giờ bạn đang kìm nén và
phủ nhận cảm xúc của mình như thế nào, đồng thời khiến bản thân cảm thấy mình
sai chỉ vì có những cảm xúc đó.
Hãy
nhìn xem bạn tự làm mình xao nhãng như thế nào mỗi khi xúc động, thay vì hiện
diện cùng cảm xúc của mình ngay khi chúng xuất hiện. Bạn đã nội hóa mối quan hệ
thiếu an toàn mà mình từng có với cha mẹ, và giờ đây bạn liên tục tái tạo một mối
quan hệ thiếu an toàn với chính mình. Đây là điều quan trọng nhất cần phải thay
đổi. Mỗi khi bạn làm điều gì đó giúp xây dựng sự an toàn trong mối quan hệ với
chính mình, bạn đang từng bước tháo gỡ tổn thương này.
Ba
là, hãy nhận ra sự khác biệt giữa mối quan hệ giữa một đứa trẻ và một người trưởng
thành với mối quan hệ giữa một người trưởng thành và một người trưởng thành
khác.
Bạn
thực sự phải phân tích những thực tế về mặt sinh học, phát triển và cấu trúc của
thời thơ ấu, đặc biệt là rất nhiều sự khác biệt và bất bình đẳng vốn có trong mối
quan hệ đó. Khi làm như vậy, bạn sẽ thấy tại sao sự an toàn vô điều kiện trong
mối quan hệ có thể và nên được cha mẹ trao cho con cái, nhưng không nên mang
tính tương hỗ, đặc biệt là không được đảo ngược vai trò. Bạn cũng sẽ hiểu tại
sao sự an toàn trong mối quan hệ nên trở thành một điều mà đứa trẻ dần dần được
dạy để tự mình cung cấp, và được kỳ vọng sẽ ngày càng có khả năng cung cấp khi
chúng phát triển.
Điều
này diễn ra trong khi sự an toàn trong mối quan hệ vẫn được duy trì từ phía cha
mẹ, để đứa trẻ có thể học cách cung cấp sự an toàn trong mối quan hệ chứ không
chỉ đơn thuần là người nhận nó. Với nhận thức này, hãy thực sự cam kết trải qua
một quá trình chữa lành mang tính phát triển đối với vấn đề an toàn trong mối
quan hệ, theo cách có ý thức thay vì vô thức.
Điều
này đưa chúng ta đến điều thứ tư. Bạn phải chấp nhận rằng khi trưởng thành, sự
an toàn trong mối quan hệ thực sự liên quan đến mức độ tác động của cá nhân lên
người kia. Một người càng bị bạn tác động sâu sắc thì họ càng ít có khả năng
duy trì sự vô điều kiện với bạn.
Đó
là lý do tại sao, trong thế giới ngày nay, mối quan hệ vô điều kiện nhất của bạn
khi trưởng thành sẽ là với một nhà trị liệu. Mối quan hệ vô điều kiện tiếp theo
nhiều khả năng sẽ là với một người bạn. Sau đó có thể là mối quan hệ với một
thành viên trong cộng đồng, chẳng hạn như khi bạn sống trong một cộng đồng có
nhiều người cùng chung không gian sinh hoạt.
Tiếp
theo, mối quan hệ vô điều kiện có khả năng cao sẽ là với một người bạn đời thực
sự tương thích với bạn.
Tại
sao? Bởi vì khi ai đó thực sự tương thích với bạn, những điều bạn làm, cách bạn
cư xử, những thứ bạn thích và không thích, điểm mạnh cũng như điểm yếu của bạn
ít có khả năng gây tác động tiêu cực đến họ hơn.
Nhưng
mối quan hệ có tính điều kiện nhất trong cuộc đời bạn sẽ là mối quan hệ với người
mà có lẽ bạn đang nhìn vào nhiều nhất một cách sai lầm để tìm kiếm sự an toàn
vô điều kiện trong mối quan hệ: một người bạn đời mà bạn cùng chung cuộc sống
và không gian sinh hoạt.
Tại
sao? Bởi vì những điều bạn làm hoặc không làm, cách bạn cư xử, những sự thật cá
nhân của bạn và tất cả những điều tương tự sẽ tác động đến họ nhiều nhất, theo
cả hướng tích cực lẫn tiêu cực. Nhận ra điều này có thể khiến bạn cảm thấy vô
cùng choáng ngợp, thậm chí thất vọng.
Để
có được trải nghiệm về sự an toàn vô điều kiện trong mối quan hệ nhiều hơn, bạn
muốn tận dụng và tìm đến những mối quan hệ mà điều đó có thể được trao cho bạn,
bởi mức độ tác động cá nhân ở đó thấp hơn. Hãy thực sự tìm đến nhà trị liệu hoặc
người bạn của mình, đồng thời hoàn toàn từ bỏ nhu cầu và kỳ vọng phải có được
điều đó trong những mối quan hệ mà mức độ tác động cá nhân cao hơn.
Năm
là, trong những mối quan hệ có mức độ tác động cao, hãy chấp nhận rằng sự an
toàn trong mối quan hệ được phát triển cụ thể thông qua việc quan tâm đến tác động
của bạn lên người kia và ngược lại.
Hãy
cam kết xây dựng sự an toàn có được thông qua việc vun đắp. Và sự an toàn có được
thông qua việc vun đắp không phải là thứ bạn đạt được một lần rồi thế là xong.
Đó là điều bạn phải xây dựng và liên tục duy trì trong suốt thời gian mối quan
hệ tồn tại.
Sự
an toàn trong mối quan hệ được phát triển thông qua sự tương thích, thông qua
việc chủ động hàn gắn mối quan hệ, thông qua giao tiếp, sự đáng tin cậy, sự đầu
tư về mặt cảm xúc và sự an toàn về mặt cảm xúc, thông qua việc chứng minh rằng
bạn là người mà đối phương có thể tin tưởng.
Nó
được xây dựng thông qua sự nhất quán và khả năng dự đoán, thông qua những ranh
giới đáng tin cậy, thông qua việc hành động phù hợp với lời nói, thông qua sự
chân thật và trung thực, thông qua việc bảo vệ những điểm dễ tổn thương của
nhau, thông qua việc đón nhận những khác biệt miễn là những khác biệt đó không
rơi vào phạm trù không tương thích. Nó cũng được xây dựng thông qua sự thấu cảm
và hòa nhịp với nhau, thông qua những thỏa thuận trong mối quan hệ được xác định
rõ ràng, minh bạch và được hai bên thực hiện nghiêm túc.
Và
việc kỳ vọng một mối quan hệ vô điều kiện thực sự là cách phá hủy sự an toàn
trong mối quan hệ, bởi vì nó trực tiếp tấn công vào chính những yếu tố tạo nên
sự an toàn thực sự. Hãy thực sự cam kết với sự an toàn có được thông qua việc
vun đắp, và để sự an toàn được chứng minh liên tục trở thành nền tảng của mối
quan hệ. Điều này không chỉ áp dụng cho bạn mà còn áp dụng cho người đang ở
trong mối quan hệ với bạn. Đây chính là cách để cả hai duy trì sự an toàn.
Bạn
sẽ cần làm điều này trong mọi loại mối quan hệ trưởng thành, nhưng mức độ sẽ
thay đổi đáng kể tùy theo từng loại mối quan hệ.
Đứa
trẻ bên trong bạn nghe từ “có điều kiện” và ngay lập tức đồng nhất nó với nguy
hiểm, với việc tình yêu bị rút lại, với những thứ như bị bỏ rơi. Nhưng trong
các mối quan hệ trưởng thành, tính điều kiện thực ra lại là thứ bảo vệ bạn
trong một mối quan hệ. Bạn cần nhìn thấy cách nó bảo vệ bạn.
Sáu
là, người bạn tốt nhất của bạn trong các mối quan hệ trưởng thành sẽ là những
thỏa thuận rõ ràng.
Trong
một mối quan hệ trưởng thành, đây chính là vùng đất của sự đồng thuận lành mạnh.
Những thỏa thuận rõ ràng là nơi hai con người độc lập cùng nhau, một cách có ý
thức, bằng lời nói và minh bạch, xác định những quy tắc, vai trò và ranh giới của
mối quan hệ, thay vì dựa vào những giả định không được nói ra, việc đọc suy
nghĩ của nhau hoặc những khuôn mẫu văn hóa có sẵn.
Những
thỏa thuận này hoạt động như một hợp đồng trong mối quan hệ, bảo vệ sự khỏe mạnh
của cả hai người trên phương diện thể chất, cảm xúc và tinh thần. Một thỏa thuận
rõ ràng không để lại chỗ cho những giả định và cũng không để lại chỗ cho sự mơ
hồ. Nó được nói ra thành lời, hoặc tốt hơn nữa là được viết xuống, và cả hai
người sử dụng ngôn ngữ cụ thể. Thỏa thuận chỉ có giá trị khi cả hai người đều tự
do nói “có”, không bị nỗi sợ về một hình phạt trong mối quan hệ chi phối.
Đây
là vấn đề về sự đồng thuận lẫn nhau, và vì thế nó củng cố quyền tự quyết cá
nhân của bạn. Một thỏa thuận lành mạnh phải nói rõ điều gì sẽ xảy ra nếu một
trong hai người không thể thực hiện thỏa thuận đó. Nó phải rõ ràng về việc liệu
hai bên có thể linh hoạt hay không.
Một
số thỏa thuận có thể liên tục được điều chỉnh linh hoạt, trong khi những thỏa
thuận khác thì không. Một số có thể được thương lượng lại, còn những thỏa thuận
khác thì không. Vì vậy, một số thỏa thuận về cơ bản là những nguyên tắc nền tảng
cố định và không thể thương lượng.
Khi
nói đến các thỏa thuận trong mối quan hệ, sự linh hoạt có thể làm tăng hoặc làm
giảm sự an toàn của mối quan hệ, và sự không linh hoạt cũng có thể làm tăng hoặc
làm giảm sự an toàn của mối quan hệ. Và không điều nào trong số này áp dụng nếu
ngay từ đầu bạn nói “có” với một điều vốn không phải là “có” đối với bạn chỉ để
bước vào một mối quan hệ, bởi vì bạn sợ rằng nếu mình nói “không”, người kia sẽ
từ chối bạn.
Đây
không phải là sự cưỡng ép. Đây là một ranh giới về sự không tương thích mà
chính bạn đã không giữ vững. Đây là việc bạn muốn có được một người mà không phải
đáp ứng những điều kiện cần thiết để trở thành bạn đời cam kết của họ.
Sự
khó chịu mà bạn cảm thấy không phải là sự cưỡng ép hay kiểm soát. Đó là sự khó
chịu khi phải đưa ra một lựa chọn rất thực tế của một người trưởng thành: đứng
vững với sự thật cá nhân của mình, ngay cả khi điều đó có nghĩa là bạn không đạt
được chính xác thứ mình muốn.
Nói
thêm một chút, nếu bạn nhận ra mô thức này ở chính mình, bạn cũng có thể được lợi
từ việc xem những video của tôi có tiêu đề “Nếu bạn muốn được yêu vì chính con
người mình, hãy xem điều này”, “Tình yêu vô điều kiện có thể mang tính lạm dụng
như thế nào”, “Sự thật và huyền thoại về tình yêu vô điều kiện” và “Mô thức ‘bất
kể thế nào’ trong các mối quan hệ”.
Tính
điều kiện không phải là một cái bẫy.
Những
điều kiện của một người bạn đời lành mạnh và những điều kiện của bạn không tồn
tại để kiểm soát bạn. Chúng là những quy tắc tương tác tồn tại nhằm giữ cho
không gian chung của mối quan hệ được an toàn, để cả hai có thể ở trong mối quan
hệ đó và dễ dàng bộc lộ sự dễ tổn thương của mình với nhau.
Chúc
bạn có một tuần tốt lành.
https://www.youtube.com/watch?v=4nOpvhxDgic
Nếu bạn muốn hiểu
sâu hơn về các khái niệm trong cuộc trò chuyện này, bạn có thể đọc thêm các bài
sau:
-
Bạn có cố tình tạo ra sự bất an trong
các mối quan hệ không?
-
Bạn xây dựng mối quan hệ dựa trên sự thỏa
hiệp hay sự tương hợp?
-
Yếu tố quan trọng nhất của sự tương hợp
trong các mối quan hệ
-
Hãy ngừng cố gắng yêu thương họ và hãy bắt
đầu cố gắng thấu hiểu họ
-
Làm thế nào để tạo ra một mối quan hệ an
toàn
-
Sai lầm lớn nhất mà mọi người mắc phải về
sự an toàn trong mối quan hệ
-
Sự an toàn, lý do phổ biến nhất khiến mọi
người phá hỏng mối quan hệ của họ
-
Làm thế nào những chiến lược tự bảo vệ của
bạn lại khiến bạn không an toàn
-
Làm thế nào để cảm thấy an toàn hơn
-
Vì sao sự an toàn trong mối quan hệ có
thể và nên được cá nhân hóa!
-
Tình yêu vô điều kiện (Làm thế nào để
yêu vô điều kiện)
-
Tôi yêu bạn "Mặc dù" - Vỏ bọc
của tình yêu vô điều kiện
-
Sự thật và ảo tưởng về tình yêu vô điều
kiện
-
Tình yêu vô điều kiện có thể trở thành sự
lạm dụng như thế nào?
https://www.facebook.com/Go-With-The-Earth-110516891516479/
Xem
toàn bộ thư viện bài viết
https://gowiththeearth.blogspot.com/2021/10/tat-ca-sach-co-tai-blogs.html
