Những chiếc Sừng của Nữ thần - Chương 4

 

Phần 2

 

Câu chuyện của Brenda trong thân phận Astelle

 

Lời giới thiệu

 

Astelle





Khi tôi lần đầu gặp Brenda, cô ấy tò mò muốn biết liệu mình có từng sống những kiếp trước hay không, và liệu cô ấy có thể được thôi miên hay không. Đây cũng là điều mà rất nhiều thân chủ muốn biết. Nhưng thôi miên là một trạng thái rất tự nhiên của cơ thể, nên tôi không hề lo lắng về điều đó. Tôi chỉ tò mò muốn xem cô ấy sẽ đi đến đâu và chúng tôi sẽ tìm thấy kiểu cuộc đời nào.

 

Cuối cùng, tôi đã làm việc với Brenda trong một khoảng thời gian khá dài, bởi cô ấy chứng tỏ mình là một đối tượng rất tốt và hoàn toàn sẵn lòng khám phá xem có những gì “ở phía sau”. Khi làm việc với Brenda, đó là những ngày đầu trong quá trình hành nghề của tôi, và tôi chưa sử dụng phương pháp mà hiện nay tôi thường dùng, đó là yêu cầu thân chủ đi đến “thời gian và địa điểm phù hợp nhất”. Phương pháp này rất hiệu quả trong việc tìm hiểu nguồn gốc của một số vấn đề trong cuộc đời hiện tại. Khi ấy, tôi vẫn đang học hỏi và khám phá những cách thức khác nhau để thực hiện công việc này.

 

Với Brenda, tôi đã thực hiện theo cách quay ngược thời gian từng khoảng xấp xỉ một trăm năm, để xem cô ấy là ai và đang ở đâu trong từng giai đoạn. Về sau, tôi nhận ra rằng mình chỉ cần hướng dẫn thân chủ đi đến thời gian và địa điểm phù hợp nhất là được.

 

Vì tôi làm việc với Brenda với mục đích tìm hiểu về tất cả những kiếp sống của cô ấy qua nhiều buổi thôi miên, chúng tôi sử dụng một từ khóa để có thể nhanh chóng và dễ dàng đi vào trạng thái xuất thần sâu. Từ khóa được sử dụng bất cứ khi nào tôi nghĩ rằng mình có thể sẽ làm việc với một người nào đó lần nữa, như trong trường hợp này. Tôi sẽ sử dụng từ khóa của cô ấy rồi đếm để đưa cô ấy trở lại trạng thái đó.

 

Ghi chú của Dolores

 

Ngay từ đầu câu chuyện, khi cô ấy mô tả những điều khủng khiếp của Tòa án Dị giáo và sự nhẫn tâm của Giáo hội, tôi đã nói với cô ấy sau buổi thôi miên: “Brenda, cô đang định làm gì với tôi vậy? Tôi không thể nào viết về chuyện này được. Nếu tôi cố kể lại những điều khủng khiếp mà Giáo hội đã làm trong thời đó, họ sẽ treo cổ tôi lên cái cây cao nhất mất. Họ sẽ không bao giờ chấp nhận việc nghe những điều như thế về những giáo phụ của Giáo hội.”

 

Cho đến bây giờ tôi vẫn cảm thấy như vậy. Câu chuyện này chứa đựng quá nhiều nội dung có sức công phá. Có lẽ đó thực sự là sự thật về cách Giáo hội đã hành xử, nhưng tôi cảm thấy mình phải chờ thêm một thời gian nữa trước khi dám viết về nó. Chỉ riêng những câu chuyện khác của tôi cũng đã đủ khiến tôi phải chịu sự chế giễu rồi. Tôi vẫn chưa thực sự sẵn sàng để mạo hiểm với câu chuyện này.

 

 

 

Trước khi Dolores qua đời, bà vẫn đang làm cuốn sách này. Tôi nghĩ bà biết rằng những thông tin này cần phải được kể lại, và thời điểm đã chín muồi.

 

Tôi sắp xếp các chương này theo thứ tự thời gian chúng được ghi âm, để các bạn có thể tiếp nhận thông tin theo đúng cách mà Dolores đã tiếp nhận.

 

Nancy

 

Chương 4

 

Một người theo “truyền thống xưa”

 

(Ghi âm ngày 29 tháng 4 năm 1986)

 

Tôi đã làm việc với Brenda trong một thời gian khá lâu, đưa cô ấy trải qua nhiều kiếp sống khác nhau. Vì cô ấy hoàn toàn thoải mái trong trạng thái thôi miên sâu, hay trạng thái mộng du, và có thể tiếp cận một lượng thông tin rất lớn khi ở trong trạng thái đó, nên tôi đã dành nhiều tháng để khám phá vô số khả năng.

 

Vào thời điểm ấy, trong quá trình nghiên cứu của tôi vào năm 1986, tôi vẫn đang khám phá những điều có thể thực hiện được thông qua thôi miên ở trạng thái xuất thần sâu. Vì khi đó không có sách hướng dẫn nào về lĩnh vực này, nên tôi vừa thực hiện vừa tự xây dựng những nguyên tắc và phương pháp cho riêng mình.

 

Cũng trong năm 1986, tôi đã có lần tiếp xúc đầu tiên với Nostradamus, và Brenda sẽ đóng một vai trò thiết yếu, mang tính quyết định trong cuộc tiếp xúc đó. Nhưng trước khi dự án ấy bắt đầu, chúng tôi vẫn đang khám phá xem rốt cuộc có thể làm được những gì.

 

Tôi đã đưa cô ấy trải qua một số kiếp sống khác nhau, và trong trạng thái chuyển tiếp giữa các kiếp sống mà chúng ta gọi là “cái chết”, tiềm thức của cô ấy nói với tôi rằng tôi nên khám phá một kiếp sống từ rất lâu trước đây, khi Brenda được biết đến với cái tên Astelle. Tôi được cho biết rằng kiếp sống này sẽ rất quan trọng đối với Brenda trong việc hiểu được những mối quan hệ của cô ấy ở cuộc đời hiện tại.

 

Vì vậy, sau khi cô ấy đã bước vào trạng thái xuất thần sâu, tôi hướng dẫn cô ấy đi ngược xuyên qua thời gian để tìm đến kiếp sống của Astelle. Tôi không biết chúng tôi sẽ rơi vào khoảng thời gian nào, nhưng tôi hoàn toàn không nghi ngờ rằng một cuộc đời như vậy thực sự tồn tại. Tiềm thức sẽ không đề nghị chúng tôi tìm đến đó nếu cuộc đời ấy không phải là một thực tại.

 

Sau khi hoàn tất việc đếm, tôi hỏi cô ấy đang làm gì. Cô ấy trả lời rằng mình đang chuẩn bị thức ăn trong một căn bếp. Quả thực, tên cô ấy là Astelle (phát âm theo ngữ âm, với trọng âm ở âm tiết đầu tiên).

 

D: Chúng ta đang ở quốc gia nào?

 

B: (Do dự.) À... đây là một công quốc. Khu vực này do công tước cai quản, và ông ấy đã liên minh với Flanders.


D: Tôi muốn hỏi liệu cô có từng nghe nơi này được gọi bằng một cái tên nào không.

 

B: Nó chỉ là một công quốc thôi. Có một cái tên mà giới quý tộc sử dụng, nhưng cái tên đó không quan trọng đối với cuộc sống thường ngày, nên thực sự tôi không biết.

 

Chú thích: Công quốc (“duchy”) là lãnh thổ do một công tước hoặc nữ công tước cai quản, tương đương với “dukedom”.

 

D: Cô nói mình đang ở trong nhà bếp. Đây có phải là nơi cô sống không?

 

B: Vâng. Tôi làm việc ở đây... cho một trong những người thuộc giới quý tộc tại nơi của công tước. Tôi là một cô hầu bếp... một người hầu chuyên làm những công việc vặt trong bếp? Tôi không chắc ngày nay người ta sẽ gọi công việc đó là gì. Phần lớn thời gian tôi làm việc trong nhà bếp.

 

D: Cô có thể kể cho tôi đôi chút về nơi này không? Nó trông như thế nào?

 

B: Nhà bếp sao?

 

D: Ừ, hoặc... đó có phải là một ngôi nhà không? Hay nó lớn hơn một ngôi nhà?

 

B: Nếu ý ông là ngôi nhà nơi những người dân bình thường sinh sống thì đúng, nơi này lớn hơn nhiều. Nó có rất nhiều phòng. Phần lớn công trình cao hai tầng, nhưng một phần có tới ba tầng. Nó được xây bằng đá, còn hầu hết những ngôi nhà khác thường được làm bằng vật liệu kiểu “wattle”.

 

D: (Tôi không hiểu.) Bằng gì cơ?

 

B: “Wattle.” Người ta lấy rơm và một loại đất sét nào đó, dựng một khung nhẹ, rồi phủ rơm lên khung ấy và trét đất sét lên để giữ tất cả cố định. Sau đó đất sét khô lại thành một bức tường cứng.

 

D: Ồ? Nếu làm bằng rơm thì khi trời mưa sẽ thế nào? Chẳng phải nó sẽ tan ra sao?

 

B: Ồ, bạn biết đấy, mỗi khi đất sét bị ướt thì nó sẽ bịt kín những chỗ hở. Khi đất sét khô đi, đôi khi nó sẽ xuất hiện chỗ bị rò rỉ. Khi đó người ta lấy thêm đất sét rồi trét lên chỗ đó, bất cứ nơi nào bị dột.

 

D: Những ngôi nhà kiểu đó có mái làm bằng gì?

 

B: Cũng bằng thứ tương tự. Và thường vào mùa hè, mái nhà sẽ được lợp thêm rơm mới. Còn cửa ra vào thì thường hoặc được làm bằng gỗ nếu gia đình khá giả, hoặc chỉ là một tấm da động vật được treo ngang trước cửa.

 

Bách khoa toàn thư: Kiến trúc

 

Wattle và daub: Một hình thức xây dựng dựa trên việc đan những cành cây non màu xanh (hoặc những cành liễu mảnh) vào nhau, sau đó đất sét được trát và ép vào các khoảng trống giữa những cành cây. Trong các công trình xây dựng khung gỗ thời Trung cổ, phần vật liệu chèn hoặc lấp giữa các thanh gỗ thường được làm theo cách này.

 

Khi lần đầu tiên nghe nói về kiểu xây dựng này vào năm 1986, tôi nghĩ nó sẽ rất mong manh và chắc chắn không bền. Nhưng kể từ đó, tôi đã nhiều lần đến châu Âu, đặc biệt là nước Anh, và nhận ra rằng mình đã quá vội vàng khi đi đến kết luận như vậy.

 

Tôi có một người bạn rất thân sở hữu một công ty quảng cáo đặt trong một tòa nhà rất cổ ở thị trấn nhỏ Ringwood, miền nam nước Anh. Ở Mỹ, chúng ta khá tự do trong việc sửa chữa hay thay đổi bất cứ điều gì mình muốn đối với bất động sản của mình, nhưng ở Anh, tính nguyên bản của công trình ban đầu phải được duy trì. Nếu một tòa nhà được xây dựng lại hoặc cải tạo, nó phải được thực hiện chính xác theo phong cách nguyên bản.

 

Bạn tôi đã cải tạo lại tòa nhà ba tầng đó, nhưng cô ấy cho tôi xem một điều rất thú vị ở tầng hai. Một bức tường trong một trong các văn phòng được để lộ phần kết cấu bên trong và phủ bên ngoài bằng một tấm kính. Khi chỉ vào những cành cây nhỏ đan xen cùng lớp vữa trong bức tường, cô ấy nói: “Chính thứ này đang giữ cho cả tòa nhà đứng vững đấy!”

 

Đó chính là kiểu xây dựng “wattle-and-daub”, và đất sét, vữa hoặc bất cứ vật liệu nào được sử dụng ở đó đã cứng lại đến độ chắc gần như xi măng. Nó đủ vững để tồn tại qua bốn trăm năm, và ngoại trừ một số chỗ lún hoặc xê dịch, tòa nhà vẫn đứng vững cho đến ngày nay.

 

Vì vậy, tôi nhận ra rằng hình thức xây dựng cổ xưa này thực sự khá thực dụng, tiết kiệm và bền chắc. Có lẽ rất nhiều bức tường cổ ở châu Âu vẫn còn chứa kết cấu “wattle-and-daub”.

 

D: Đó có phải là kiểu nhà mà cô từng sống trước khi đến nơi này không?

 

B: Tôi không nhớ. Tôi đã ở đây suốt cả cuộc đời mình. Tôi nghĩ mình được sinh ra ở đây, trong ngôi nhà này, nhưng tôi không chắc.

 

D: Nơi này có được gọi là “lâu đài” không? Hay cô có biết từ đó không?

 

B: (Chậm rãi.) Tôi không... biết từ đó. Tôi không nghĩ nó phù hợp. Tôi chưa bao giờ nghe từ ấy.

 

Đặc điểm của một người thực sự ở trạng thái thôi miên kiểu “mộng du” là họ không nhận biết những từ ngữ không tồn tại trong thời đại mà họ đang trải nghiệm, mặc dù trong cuộc đời hiện tại họ hoàn toàn quen thuộc với những từ đó. Đây là một dấu hiệu cho thấy người đó thực sự đang du hành xuyên thời gian và hoàn toàn ở trong một thời kỳ khác.

 

D: Vậy đây chỉ là một ngôi nhà lớn thôi sao?

 

B: Một ngôi nhà lớn... Tôi đang cố nghĩ xem người ta gọi nó là gì. Tôi không thể tìm ra từ đó. Nhưng tôi sẽ mô tả cho bạn biết nó trông như thế nào, có lẽ bạn sẽ biết một từ để gọi nó.

 

D: Được, bởi vì tôi biết rất nhiều từ.

 

B: Nhà bếp, nơi tôi làm phần lớn công việc, có trần rất cao. Những thanh xà chạy ngang qua trần nhà và chúng đã bị khói làm cho đen kịt. Có một lò sưởi lớn dạng hốc để người ta có thể bước vào, nơi chúng tôi nấu ăn. Trên tường treo đủ loại nồi, chảo và dụng cụ. Có một cái bàn lớn, hay đúng hơn là một chiếc bàn rất dài, chạy dọc theo chiều dài căn phòng. Đây là nơi chúng tôi chuẩn bị thức ăn, mọi thứ đều được đặt trên chiếc bàn này. Chúng tôi cắt thức ăn, chuẩn bị mọi thứ ở đây rồi cho vào nồi. Sau đó chúng tôi đặt những chiếc nồi gần hoặc bên trên ngọn lửa, tùy theo cách chế biến món ăn.

 

Sàn nhà cũng được làm bằng đá, nhưng là những phiến đá phẳng. Nó phải được làm bằng đá, bởi sàn gỗ không thể tồn tại lâu khi thường xuyên có thức ăn thừa và đủ thứ rơi vãi trên đó.

 

D: Nghe cũng hợp lý. Có nhiều người trong nhà bếp cùng làm việc không?

 

B: À, có... để tôi xem... (Cô ấy dường như nhìn quanh rồi đếm.) Có đầu bếp chính, rồi có hai người khác cũng đảm nhiệm công việc của đầu bếp chính khi cần. Sau đó có một nhóm nhỏ chúng tôi chuyên cắt, gọt và làm những công việc tương tự. Và còn có hai con chó nữa.

 

D: Những con chó luôn ở trong bếp sao?

 

B: Vâng. Chúng giúp cho sàn nhà không bị chất đống quá nhiều thứ.

 

D: Ồ. Ý cô là mỗi khi nấu ăn, các cô cứ ném mọi thứ xuống sàn à?

 

B: Vâng, ném vào giữa lớp rơm.

 

D: Ồ, có rơm trải trên sàn đá sao?

 

B: Vâng. Đá sẽ quá lạnh, đặc biệt là vào mùa đông, nên chúng tôi trải rơm lên trên đá để sàn không quá lạnh. Chúng tôi chỉ là người hầu nên không có thứ gì để che chân.

 

D: Rồi các cô cứ ném thức ăn thừa xuống sàn, lẫn vào lớp rơm sao?

 

B: Vâng. Trong phòng ăn cũng làm như vậy khi giới quý tộc dùng bữa. Xương và những thứ tương tự được ném xuống sàn, rồi những con chó của các quý tộc cũng ăn những thứ đó.

 

D: Vậy trong phòng ăn cũng có rơm trải trên sàn. Ừm... chắc hẳn trong nhà có rất nhiều chó.

 

B: Chỉ số lượng thông thường đối với một ngôi nhà có kích thước như thế này thôi.

 

D: Thông thường là bao nhiêu?

 

B: Tôi chưa bao giờ nghĩ về chuyện đó. Tôi đoán khoảng tám hoặc mười con.

 

Cô ấy tiếp tục mô tả ngôi nhà:

 

“Có những hành lang tỏa ra từ phòng ăn và dẫn đến những khu vực khác của... nơi này. Những hành lang đó không có rơm trên sàn vì mọi người không sinh hoạt ở đó. Người ta chỉ đi qua hành lang để đến một khu vực khác của nơi này.

 

Tôi từng nghe những cô hầu gái làm việc trong các phòng ngủ kể rằng phòng ngủ trông rất đẹp, với những tấm thảm dệt trang trí và những thứ tương tự. Trên sàn cũng có những tấm thảm.”

 

D: Tôi từng nghe nói những tấm thảm dệt đó được dùng để giúp ngôi nhà ấm hơn. Có đúng vậy không?

 

B: Vâng, đúng vậy, bởi vì có những luồng gió lùa. Hơn nữa, ngay cả khi không có gió lùa, cái lạnh từ những bức tường đá cũng truyền vào bên trong. Nó giống như tỏa ra... đó có phải là từ đúng không nhỉ?... vào phía trong. Cái lạnh thấm đến tận xương. Những tấm thảm giúp ngăn bớt cái lạnh đó.

 

D: Ngôi nhà này có cửa sổ không?

 

B: Cửa sổ là những khoảng mở trên tường nhưng không phải cửa ra vào, đúng không?

 

D: Đúng.

 

B: Chúng thường dài và hẹp, bên ngoài có cửa chớp. Chủ yếu vào mùa hè, chúng được dùng để giúp thông gió. Và chúng được thiết kế sao cho các cung thủ có thể sử dụng thuận tiện.

 

D: Tôi nghĩ các cô cần phải có cách đóng chúng lại, nếu không trời sẽ lạnh.

 

B: Vâng, cửa chớp dùng để làm việc đó.

 

D: Vậy cô nói các cung thủ phải có thể bắn qua những cửa sổ đó sao?

 

B: Vâng.

 

D: Tại sao? Thỉnh thoảng có nguy hiểm sao?

 

B: Vâng.

 

D: Trong toàn bộ ngôi nhà còn có những lò sưởi khác nữa không?

 

B: Tất nhiên. Mỗi phòng đều có ít nhất một lò sưởi. Phòng ăn có hai cái. Còn trong bếp, lò sưởi lớn đến mức không cần thêm một cái thứ hai. Nhưng tất cả các phòng khác đều có lò sưởi.

 

Ngoại trừ căn phòng ở trên đỉnh tháp. Tôi nghe nói trong đó có một thứ lá chắn bằng kim loại kỳ diệu, bên trong người ta giữ một ngọn lửa luôn cháy. Tôi chưa bao giờ đến đó. Tôi chỉ nghe những người hầu khác kể lại.

 

D: Ý cô là một vật chứa để người ta đặt lửa vào bên trong?

 

B: Nó được gọi là một “lá chắn”, và tôi nghe nói nó giống như một cái bát rất nông nhưng cực kỳ lớn. Nó cong rất thoải và có dạng tròn, kích thước rất lớn. Ở chính giữa người ta nhóm và duy trì một ngọn lửa nhỏ. Tôi còn nghe một điều kỳ lạ rằng nó được treo trên trần nhà bằng những sợi xích.

 

Tôi nghi rằng ông chủ có dính líu đến những thứ tà đạo trong căn phòng đó. Người ta nói rằng ông ấy dùng thứ đó để triệu gọi các linh hồn. Nhưng chuyện đó không được nói đến.

 

D: Tôi hiểu tại sao. Nhưng nghe có vẻ đó là một cách sưởi ấm tuyệt vời. Chắc hẳn trong nhà phải có nhiều thứ như vậy hơn chứ?

 

B: Tôi nghe nói nó không hiệu quả đối với những căn phòng lớn. Nó phù hợp với những căn phòng nhỏ hơn. Nhưng ngay cả như vậy, người ta vẫn phải để một trong các cửa sổ mở cửa chớp một phần để khói có thể thoát ra ngoài.

 

D: Ồ, đúng rồi. Những lò sưởi chắc hẳn phải có ống khói chứ?

 

B: Vâng.

 

D: Nhưng cô nói cô chưa bao giờ vào căn phòng đó?

 

B: Không. Tôi thực sự không biết có ai có thể thành thật nói rằng họ đã từng vào đó. Những gì tôi nghe được chỉ là lời đồn. Hoặc có lẽ một hoặc hai người hầu từng được sai vào đó để dọn dẹp vào những dịp nào đó. Nếu vậy, tôi chắc chắn ông chủ sẽ cất kỹ những dụng cụ tà đạo của mình đi. Nhưng họ nói đó là một căn phòng vô cùng khác thường.

 

D: Chà, người ta không bao giờ biết những điều mình nghe được có thật hay không. Có thể tất cả chỉ là lời đồn đại.

 

B: Có thể. Nhưng mọi người đều biết rằng căn phòng đó không có ống khói, vì vậy chắc chắn phải có một cách nào đó để sưởi ấm nó. Tất nhiên, nếu quả thực nó được sưởi ấm.

 

D: Ông ta có dành nhiều thời gian ở đó không?

 

B: Tôi không biết. Tôi nghĩ ông ta dành vài buổi tối ở đó. Người ta nói trong đó có một số bản viết trên giấy da, loại vật liệu mà giới quý tộc dùng để viết. Có thể ông ta cất giữ một số kiến thức ở đó.

 

D: Cô biết đọc không?

 

B: (Nhấn mạnh.) Không! Đó là việc của giới quý tộc. Tôi cũng không thể đếm được quá nhiều. Nhưng tôi cần biết một chút về việc đếm để phụ giúp công việc nấu nướng.

 

D: Vậy chỉ có giới quý tộc mới có thể đọc những bản viết trên giấy da mà ông ta có?

 

B: Vâng.

 

D: Cô khoảng bao nhiêu tuổi? Cô có biết không?

 

B: À... (Suy nghĩ.) Người ta nói tôi đã ở đây được... (Không chắc.) mười lăm năm? Có lẽ mười sáu năm.

 

D: Vậy cô là một phụ nữ trẻ.

 

B: Tôi đã đến tuổi lấy chồng.

 

D: Nhưng cô nghĩ mình được sinh ra ở đó?

 

B: Tôi nghĩ vậy. Tôi không nhớ bất cứ điều gì khác.

 

D: Cô có biết mẹ hoặc cha mình không?

 

B: Tôi chỉ còn nhớ lờ mờ về mẹ. Tôi không biết cha mình.

 

D: Mẹ cô còn sống không?

 

B: Bà ấy qua đời khi tôi còn nhỏ.

 

D: Đó có phải là lý do cô ở lại đó không?

 

B: Dù thế nào tôi cũng sẽ ở lại đây. Đây là nơi tôi thuộc về.

 

D: Vậy những người khác trong nhà đã chăm sóc cô?

 

B: Tôi nghĩ vậy.

 

D: Nhưng đó có phải tất cả những gì cô nhớ không, chỉ làm việc trong nhà bếp?

 

B: Đó là công việc tôi làm khi đang làm việc. Nhưng vào khoảng thời gian giữa các bữa ăn hoặc những ngày lễ, tôi ra ngoài đồng.

 

D: Ý cô là cô ra đồng để phụ giúp công việc sao?

 

B: Không, không. Chỉ ra ngoài thôi, tận hưởng việc được ở bên những người khác cùng tầng lớp với mình.

 

D: Vậy trong ngôi nhà, cô có một chỗ để ngủ không?

 

B: Có. Có một chỗ gần nhà bếp, nằm ở... bạn biết đấy, những người khác nhau trong chúng tôi ngủ ở những nơi khác nhau, tùy theo chỗ nào chúng tôi tìm được để ngủ. Nơi tôi ngủ là một... có một khoảng lõm dưới một cầu thang. Nó giống như một cái tủ nhỏ. Tôi đã chọn chỗ đó. Những người hầu khác không cho rằng đó là một nơi đáng mong muốn vì nó chỉ là một cái tủ nhỏ, lại không có cửa sổ hay bất cứ thứ gì tương tự. Nhưng họ không nhận ra rằng bức tường phía sau cái tủ rất gần với mặt sau của lò sưởi, nên vào mùa đông nơi đó luôn ấm.

 

D: Vậy là cô biết mình đang làm gì khi xin chỗ đó.

 

B: (Cười.) Vâng. Vì vậy, nếu muốn không khí trong lành, tôi có thể ra ngoài vào ban ngày, nhưng ban đêm thì tôi cần phải giữ ấm.

 

D: Cô có giường hay thứ gì đó để ngủ trong căn phòng nhỏ ấy không?

 

B: Tôi ngủ trên sàn. Đôi khi ông chủ bỏ đi một chiếc áo choàng cũ, tôi lấy nó và trải xuống sàn.

 

D: Như vậy sẽ ấm hơn.

 

B: Vâng.

 

D: Cô đang mặc loại quần áo gì? Cô mặc những gì?

 

B: Tôi mặc một chiếc váy và một chiếc áo có thân áo bó, cùng một chiếc khăn choàng.

 

D: Chúng có màu gì?

 

B: Thực ra chẳng có màu gì rõ rệt. Chúng chỉ được nhuộm bằng thuốc nhuộm từ quả sồi. Tôi đoán bạn sẽ gọi đó là màu nâu xám. Váy của tôi có màu nâu nhạt, còn áo có màu kem sẫm. Nó chưa bao giờ được nhuộm. Thân áo của tôi màu nâu sẫm. Còn khăn choàng... tôi quấn khăn quanh eo. Trước đây nó có màu xanh lam, nhưng đã bạc màu thành màu xám.

 

D: Do giặt nhiều lần sao?

 

B: Vâng.

 

D: Cô có đội thứ gì trên đầu không?

 

B: Không. Đôi khi vào mùa hè tôi sẽ đội chiếc khăn lên đầu.

 

D: Tóc cô màu gì?

 

B: Nó nằm giữa màu vàng óng và màu đỏ.

 

D: Cô có để tóc theo kiểu đặc biệt nào không?

 

B: Không. Tôi chỉ tết tóc.

 

D: Tôi chỉ tò mò không biết người dân của cô có mặc quần áo màu sắc rực rỡ không.

 

B: Người hầu thì không. Làm vậy sẽ không thích hợp.

 

D: Chỉ những người thuộc giới quý tộc mới mặc màu sắc rực rỡ sao?

 

B: Không hẳn là màu rực rỡ, mà là những màu nguyên chất, trong khi màu quần áo của chúng tôi lúc nào cũng bạc màu. Họ mặc những màu nguyên chất nhưng hơi tối, như màu rượu vang, đỏ mận, đỏ tía, xanh lam, vàng, đen. Bạn biết đấy, những màu nguyên chất. Còn quần áo của tôi thì có màu nâu xám, những màu ở giữa, không rõ rệt.

 

D: Nhưng những người hầu khác cũng ăn mặc giống như cô, với những loại màu sắc như vậy?

 

B: Vâng.

 

D: Đàn ông có ăn mặc khác không?

 

B: Có. Điều đó phụ thuộc vào việc anh là quý tộc hay người hầu. Người hầu, vì lý do thực tế, mặc quần ống chẽn. Quần dài đến bắp chân. Họ mặc thêm áo sơ mi và áo ghi-lê, cùng một loại mũ nào đó. Còn những người phụ nữ hầu như tôi thì mặc váy, áo, thân áo bó và khăn choàng. Hầu hết họ đội khăn trên đầu. Tôi quấn khăn quanh eo vì tôi đủ gầy để có thể buộc nó quanh eo. Ngoài ra còn vì có một người phụ nữ khác trong nhà khá xấu xí. Cô ta rất ghen tị với mái tóc của tôi, nên tôi nhất quyết không che tóc lại.

 

(Cô ấy mỉm cười, và tôi bật cười.)

 

Còn những người đàn ông quý tộc mặc áo choàng dài chạm đất và đội những loại mũ có nhiều màu sắc đẹp khác nhau, tùy theo địa vị của họ trong xã hội. Phụ nữ quý tộc mặc những chiếc váy dài tay với nhiều màu sắc khác nhau.

 

D: Họ đội những loại mũ gì?

 

B: Điều đó phụ thuộc vào địa vị của họ. Có nhiều hình dạng mũ và nón khác nhau. Đôi khi có gắn mạng che mặt hoặc những thứ tương tự, đôi khi thì không. Mũ có nhiều hình dạng khác nhau. Có khi chúng ôm sát đầu và được quấn quanh như khăn xếp. Có khi chúng có vành, chóp mũ và những phần tương tự. Những hình dạng khác nhau đó mang những ý nghĩa khác nhau.

 

D: Cô có biết chúng có ý nghĩa gì không?

 

B: Chỉ những loại mà tôi từng nhìn thấy. Các giáo sĩ, những linh mục, đội những loại mũ khác nhau tùy theo cấp bậc của họ trong hàng giáo phẩm. Người quý tộc tham gia vào lĩnh vực pháp luật đội một loại mũ. Còn một quý tộc tham gia vào... cơ quan lập pháp - đó có phải là từ đúng không? - thì đội một loại mũ khác.

 

D: “Lập pháp” cũng liên quan đến luật pháp. Tôi nghĩ nó phức tạp hơn.

 

B: Một người giải thích luật khi luật đã tồn tại, còn người kia giúp tạo ra những luật mới khi cần thiết.

 

D: Đúng, đó là từ thích hợp.

 

B: Một số quý tộc chỉ quản lý đất đai thì đội một loại mũ khác. Một số quý tộc tham gia vào việc buôn bán, nên họ cũng có một loại mũ khác.

 

D: Và cô có thể nhận ra họ dựa vào trang phục của họ?

 

B: Vâng.

 

D: Còn ông chủ của ngôi nhà thì sao? Ông ấy có loại mũ đặc biệt nào không?

 

B: Ông ấy quản lý đất đai, nên đội loại mũ đó. Nó có chóp thấp, vành rộng và phần vành được tạo hình. Tôi không biết phải mô tả thế nào rõ hơn. Nó thường có màu đen.

 

D: Cô gọi ông chủ ngôi nhà là gì? Ông ấy có tước hiệu không?

 

B: Chúng tôi gọi ông ấy là “lãnh chúa của tôi”.

 

D: Lãnh chúa?

 

B: “Lãnh chúa của tôi”, hoặc “ông chủ”. Ông ấy là một công tước.

 

D: Cô có biết tên ông ấy không? Ngoài tước hiệu đó, ông ấy còn có tên khác không?

 

B: Ừm... một trong những tên của ông ấy là Paul. (Im lặng.) Tôi không biết thêm. Tôi chắc chắn ông ấy còn có họ của gia đình. Nhưng tôi chẳng bao giờ nhớ được những cái tên đó, nên tôi cũng không bận tâm. Đôi khi trí nhớ của tôi không được tốt.

 

D: Nhưng cô chỉ có một tên thôi sao?

 

B: Vâng. Tôi là Astelle.

 

(Tôi phát âm tên cô ấy, và cô ấy sửa lại cho tôi, nhấn rất rõ vào âm tiết đầu tiên.)

 

D: Vậy những người hầu thường không có hai tên?

 

B: Không. Đôi khi những người thợ trong làng, như thợ rèn hoặc những người làm nghề tương tự, sẽ có một cách gọi mô tả công việc của họ. Chẳng hạn như John thợ rèn. Nhưng đó không phải là tên, chỉ là một cách mô tả.

 

D: Bởi vì có thể có nhiều hơn một người tên John.

 

B: Vâng.

 

D: Tôi đang nghĩ, Astelle không phải là một cái tên quen thuộc đối với tôi.

 

B: Ở đây cũng không phải cái tên phổ biến. Tôi không biết tại sao mẹ lại đặt tên tôi như vậy. Tôi từng nghe nói ý nghĩa của cái tên này có liên quan đến những vì sao. Nhưng tôi không chắc, trừ khi là vì màu tóc của tôi.

 

D: Màu đỏ và vàng?

 

B: Ừ-hừ.

 

D: Cô có hạnh phúc ở đó không?

 

B: Tôi đoán là có. Tôi không biết. Hạnh phúc là gì? Bất hạnh là gì? Tôi chỉ sống từng ngày một.

 

D: Ồ, người ta nói hạnh phúc là một trạng thái của tâm trí. Nhưng ít nhất cô không khổ sở, đúng không, nếu cô hiểu từ đó có nghĩa là gì?

 

B: Tôi biết từ đó có nghĩa là gì. Tôi được ăn uống và có một chỗ để ngủ.

 

D: Vậy tôi đoán nếu một người không hạnh phúc, họ sẽ muốn ở một nơi khác.

 

B: Tôi thường tự hỏi phía bên ngoài nơi tôi có thể nhìn thấy là gì. Nhưng đi lại không phải việc dành cho tôi.

 

D: Vậy nếu có cơ hội, cô cũng sẽ không đi đâu cả. Có đúng không?

 

B: Không. Tôi sẽ đi. Nhưng tôi không thể tự nhiên bỏ đi du hành mà chẳng có lý do gì. Nếu ông chủ sai tôi đến một nơi nào đó, tôi sẽ đi.

 

D: Nhưng nếu cô không thực sự hạnh phúc thì ít nhất cô cũng hài lòng với cuộc sống của mình. “Hài lòng” có phải là một từ phù hợp không?

 

(Cô ấy có vẻ bối rối.)

 

Ý tôi là mọi thứ vẫn ổn.

 

B: Mọi thứ vẫn ổn.

 

D: Vậy cô không bị đối xử tệ bạc?

 

B: (Cười.) Chỉ có người phụ nữ quý tộc ghen tị với mái tóc của tôi thôi. Cô ta thích đánh tôi.

 

D: Cô ta đánh cô sao? Cô ta đánh cô vì lý do gì?

 

B: Vì cô ta xấu xí còn tôi thì không.

 

D: Tôi không nghĩ đó là lý do chính đáng.

 

B: Nhưng cô ta là một phụ nữ quý tộc còn tôi là người hầu. Như vậy là đủ lý do rồi. Nếu cô ta muốn đánh tôi thì cô ta có thể đánh.

 

D: Cô ta có phải là phu nhân của chủ nhân ngôi nhà không?

 

B: Không. Cô ta là một người họ hàng nào đó của phu nhân chủ nhân ngôi nhà.

 

D: Vậy cô ta sống ở đó?

 

B: Vâng.

 

D: Cô gọi cô ta là gì? Cô ta có tên không?

 

B: Cô ta là Phu nhân Joslyn.

 

D: Cô có cố tránh xa cô ta không?

 

B: Tôi chỉ ở đây trong nhà bếp và làm việc. Nhưng thỉnh thoảng cô ta lại xuống đây. Bất cứ khi nào cô ta tức giận vì chuyện gì đó, cô ta sẽ xuống đây để đánh tôi.

 

D: Cô ta trút giận lên cô, trong khi cô chẳng liên quan gì đến chuyện đó.

 

B: Đó là quyền của cô ta. Cô ta là một phụ nữ quý tộc.

 

D: Cô có oán giận cô ta vì điều đó không? Nếu cô hiểu từ ấy có nghĩa là gì?

 

B: Tôi biết nó có nghĩa là gì. À... tôi chỉ gần như đã quen với việc đó sẽ xảy ra. Tôi không oán giận cô ta, nhưng tôi cảm thấy cô ta oán giận tôi. Bởi vì còn có một chuyện khác. Có một người quý tộc trẻ được gửi đến đây làm thị đồng. Anh ấy đã đạt đến địa vị thị vệ, và chẳng bao lâu nữa sẽ trở thành hiệp sĩ. Cô ta bắt đầu để ý đến anh ấy, nhưng anh ấy không đáp lại tình cảm của cô ta. Cô ta không thể hiểu tại sao. Bởi vì cô ta không biết rằng... anh ấy và tôi là người yêu của nhau.

 

D: Ồ? Chuyện đó xảy ra như thế nào?

 

B: Vào những ngày thời tiết đẹp, các thị vệ, thị đồng và hiệp sĩ ra sân tập để rèn luyện kỹ năng. Đôi khi họ yêu cầu mang thức ăn ra đó để họ không phải gián đoạn việc đang làm. Thường thì công việc của tôi và một vài người khác là mang thức ăn ra cho họ.

 

D: Và đó là cách cô gặp anh ấy?

 

B: Vâng.

 

D: Nhưng chẳng phải anh ấy thuộc một... địa vị khác sao?

 

B: Vâng. Đó là lý do chúng tôi không thể kết hôn. Nhưng anh ấy nói rằng anh ấy thực sự yêu tôi. Tôi biết mình cũng thực sự yêu anh ấy. Tôi không lo lắng về chuyện đó. Có một điều tôi đã học được, đó là phải đón nhận từng khoảnh khắc khi nó đến, và đừng lo lắng về hậu quả, bởi điều gì phải xảy ra thì sẽ xảy ra. Vì vậy, khi điều tốt đẹp đến, hãy đón nhận những gì tốt đẹp mà mình có thể có.

 

D: Tên anh ấy là gì?

 

(Tôi gặp khó khăn trong việc nghe và cố phát âm cái tên cô ấy nói. Cô ấy phải nhắc lại vài lần. Âm thanh nghe giống như “Thoroff”, theo cách phát âm.)

 

D: Anh ấy trông như thế nào?

 

B: (Nói với vẻ yêu thương.) Anh ấy cao và có nước da sáng. Anh ấy rất khỏe mạnh. Tóc anh ấy có màu giống như sợi lanh, rất sáng. Khi ở ngoài nắng nhiều, tóc anh ấy chuyển thành màu trắng. Da anh ấy cũng chuyển sang màu vàng óng dưới ánh nắng. Anh ấy có vẻ ngoài rất đẹp. Đôi mắt anh ấy xanh như bầu trời.

 

D: Cô đã yêu anh ấy được bao lâu rồi?

 

B: Khoảng một năm nay.

 

D: Vậy hai người gặp nhau ở đâu? Bởi vì anh ấy không thể vào nhà bếp, đúng không?

 

B: Không, anh ấy không thể. Đôi khi anh ấy đến chỗ cái tủ nhỏ của tôi. Đôi khi chúng tôi gặp nhau bên ngoài. Có một nơi nhất định trong lùm cây mà chúng tôi đến khi thời tiết ấm áp. Khi thời tiết lạnh, chúng tôi gặp nhau trong chuồng ngựa. Chúng tôi không thể gặp nhau ở nơi anh ấy ở, bởi tất cả các hiệp sĩ, thị vệ và những người như vậy đều ở chung trong những căn phòng lớn. Họ ngủ cùng nhau theo từng nhóm. Vì thế chúng tôi không thể đến đó.

 

D: Cô nghĩ hai người vẫn có thể tiếp tục gặp nhau khi anh ấy trở thành hiệp sĩ không? Khi đó anh ấy sẽ có địa vị cao.

 

B: Có. Chúng tôi sẽ tiếp tục gặp nhau chừng nào anh ấy còn ở nơi này. Phu nhân Joslyn đang cố làm cho cuộc sống của chúng tôi trở nên khó khăn. Cô ta lúc nào cũng gọi anh ấy đến hầu hạ mình. (Cười.) Đôi khi cô ta còn cố gọi anh ấy đến hầu vào những thời điểm không thích hợp trong ngày. Công tước cũng bắt đầu cảm thấy chuyện này khá tai tiếng. Ông ấy không trách Roff vì ông ấy biết Phu nhân Joslyn là người thế nào. Nhưng đối với Phu nhân Joslyn, cô ta khá tuyệt vọng trong việc tìm một người chồng. Cô ta không xinh đẹp, giọng nói khó nghe và chỉ nghĩ đến bản thân mình. Ở bên cô ta chẳng dễ chịu chút nào.

 

D: Cô ta đang già đi sao? Đó có phải là lý do khiến cô ta trở nên tuyệt vọng không?

 

B: Vâng, cô ta là một phụ nữ đã quá tuổi kết hôn mà vẫn chưa lấy chồng.

 

D: Bao nhiêu tuổi thì được xem là già?

 

B: Cô ta... hai mươi bốn, hai mươi lăm tuổi?

 

D: Ồ, vậy thông thường người ta đã kết hôn ở tuổi đó rồi sao?

 

B: Ồ, vâng.

 

D: Cô nói cô ta gọi anh ấy đến vào những thời điểm không thích hợp trong ngày. Ý cô là gì?

 

B: Cô ta gọi anh ấy đến hầu mình, chẳng hạn... một lúc nào đó sau giờ ăn tối. Sau đó cô ta cố giữ anh ấy lại đến tận khuya, nhằm tìm cách khiến anh ấy phải có trách nhiệm với cô ta. Rồi cô ta sẽ cố tuyên bố rằng mình đã mang thai, để họ buộc phải kết hôn.

 

D: Ồ, vậy thì anh ấy sẽ phải cưới cô ta. Mọi chuyện là như vậy sao?

 

B: Trong trường hợp của cô ta thì đúng. Nhưng anh ấy nói với tôi rằng những mưu tính của cô ta sẽ không thành công. (Mỉm cười.) Anh ấy nói cô ta xấu xí đến mức anh ấy không thể nào có ham muốn với cô ta.

 

D: (Cười.) Nhưng đó là lý do cô ta cứ gọi anh ấy đến phòng mình sao?

 

B: Vâng. Và tất cả những phụ nữ trong nhà đều biết cô ta không mang thai, và có lẽ cô ta cũng chẳng thể mang thai được.

 

D: Nhưng cô nói Công tước cảm thấy tai tiếng vì chuyện đó?

 

B: Vâng.

 

D: Ông ấy thực sự không biết chắc rằng giữa họ chẳng có chuyện gì xảy ra, đúng không?

 

B: Phu nhân của ông ấy nói với ông ấy rằng chẳng có chuyện gì xảy ra. Nhưng lý do ông ấy cảm thấy tai tiếng là vì Phu nhân Joslyn đang cư xử không đúng mực. Ông ấy còn đe dọa sẽ đuổi cô ta đi.

 

D: (Cười.) Cô sẽ không phiền nếu chuyện đó xảy ra, đúng không?

 

B: Không, tôi sẽ không phiền.

 

D: Đây là lý do cô ta đánh cô, bởi vì cô ta ghen?

 

B: Vâng. Người ta nói tôi xinh đẹp. Tôi chưa bao giờ nhìn thấy chính mình nên cũng không biết. Tôi thích màu tóc của mình. Roff nói tôi rất đẹp, nhưng Roff thì không khách quan.

 

D: (Cười.) Cô đã bao giờ nghe nói về thứ gọi là “gương” chưa?

 

B: Những phụ nữ trong nhà có những miếng kim loại được đánh bóng, qua đó họ có thể nhìn thấy hình ảnh phản chiếu của mình. Khi họ chuẩn bị ăn tối, đi dự tiệc khiêu vũ hoặc làm điều gì đó tương tự, những người hầu riêng sẽ cầm những tấm kim loại đó cho họ để họ có thể nhìn thấy mình, nhưng hình ảnh rất mờ.

 

D: Nhưng cô chưa bao giờ nhìn thấy mình trong một chiếc gương như vậy?

 

B: Không.

 

D: Vậy nghe có vẻ như mỗi khi cô ta tức giận vì bất cứ chuyện gì, cô ta đều trút giận lên cô. Có đúng không?

 

B: Vâng. Sau khi trút giận lên những người hầu riêng của cô ta.

 

D: Cô ta hẳn phải là người rất nóng tính.

 

B: Vâng, đó là một trong những lý do cô ta không được mọi người yêu mến. Tính khí đó đi cùng với giọng nói của cô ta. Nó the thé đến chói tai.

 

(Tôi bật cười.)

 

D: Vậy Công tước có một gia đình lớn sống cùng ông ấy ở đó không?

 

B: Ồ, vâng. Một gia đình lớn và một đoàn tùy tùng đông đúc.

 

D: Ông ấy có con không?

 

B: Có. Người ta nói ông ấy cũng có nhiều con ngoài giá thú trong số những người hầu. Tôi nghi rằng ông ấy có thể là cha tôi. Nhưng tất nhiên, tôi không được phép nói về chuyện này.

 

D: Ông ấy đủ lớn tuổi để có thể là cha cô sao?

 

B: Ồ, vâng. Ông ấy ở độ tuổi ngoài bốn mươi.

 

D: Nhưng ít nhất ông ấy vẫn chăm sóc những người con của mình nếu ông ấy biết họ là con mình. Có đúng không?

 

B: Vâng. Ông ấy cho phép họ ở lại đây, có một nơi để sống và làm việc. Và phu nhân của ông ấy, Phu nhân Evelyn, sẽ lo liệu chuyện đó. Người ta nói mẹ tôi từng rất xinh đẹp. Vì vậy, việc Công tước quyến rũ bà ấy cũng chẳng có gì đáng ngạc nhiên.

 

D: Chuyện này phổ biến trong số những người hầu sao?

 

B: Gì cơ?

 

D: Việc có quan hệ với những người thuộc hoàng tộc theo cách này?

 

B: Đó là quyền của Công tước. Nếu ông ấy muốn ngủ với một trong những người hầu của mình thì ông ấy có thể làm vậy.

 

D: Họ không có quyền nói gì về chuyện đó sao?

 

B: Không. Người ta xem việc được Công tước chọn để ngủ cùng ông ấy là một niềm vinh dự. Nhưng mọi người nhận thấy có một số người, dù họ xinh đẹp đến đâu, ông ấy vẫn không chọn ngủ cùng. Tuy nhiên, ông ấy vẫn đối xử tử tế với họ. Người ta nghi rằng những người được ông ấy đối xử như vậy chính là con của ông ấy.

 

D: Ồ. Điều đó hoàn toàn có thể. Không ai biết chắc được. Cô có biết “tôn giáo” là gì không?

 

B: Tôn giáo? Đó có phải là giống như Giáo hội không?

 

D: Đúng. Nơi cô sống có một tôn giáo cụ thể nào không?

 

B: Có Giáo hội Công giáo La Mã.

 

D: Đây là điều mà mọi người tin sao?

 

B: Đó là điều hoàng tộc tin. Giới quý tộc tin. Còn những người hầu như chúng tôi thì có những nguồn tín ngưỡng khác. Nhưng chuyện này không được biết đến rộng rãi bên ngoài phạm vi của chúng tôi.

 

D: Cô có thể kể cho tôi nghe về điều đó không?

 

B: Nếu bạn muốn. Bạn không được nói với giới quý tộc, bởi chúng tôi sẽ bị trừng phạt bằng những hình thức khắc nghiệt nhất.

 

D: Cô luôn có thể tin tưởng tôi, bởi tôi không nói cho bất kỳ ai biết.

 

B: Bạn không phải người của Tòa án Dị giáo chứ?

 

D: Ồ, không. Không, tôi chỉ giống như một người bạn mà cô có thể kể mọi chuyện.

 

B: Tôi nghĩ bạn có thứ gì đó giống như một linh thể thân thuộc.

 

D: Ý cô là gì? (Tôi không hiểu.) Một “linh thể không thân thuộc” là gì?

 

B: Là linh thể thân thuộc, không phải linh thể không thân thuộc.

 

D: Ồ, tôi tưởng cô nói “không thân thuộc”. (Cười.) Một linh thể thân thuộc, có phải là một thứ mà cô nhận ra hoặc cảm thấy thoải mái khi ở bên không?

 

B: Có những cách để nhận biết các linh thể thân thuộc. Bạn thấy đấy, Công tước từng nghiên cứu một phần tín ngưỡng của chúng tôi, nhưng ông ấy đã bóp méo nó và sử dụng nó theo mục đích riêng của mình. Trong số những người hầu có những người chúng tôi vẫn đi theo truyền thống xưa. Và Giáo hội đang cố gắng dập tắt truyền thống này.

 

D: Đây có phải là Tòa án Dị giáo mà cô vừa nói đến không?

 

B: Vâng.

 

D: Tòa án Dị giáo làm gì?

 

B: Họ thẩm vấn, tra tấn rồi hành quyết người ta.

 

D: Họ tìm kiếm những người tin vào những điều khác biệt sao? Hay họ làm cách nào để biết?

 

B: Họ không biết. Họ chỉ tìm những người để thỏa mãn những thú vui bệnh hoạn của mình. Bất cứ ai dám suy nghĩ khác biệt, bất cứ ai dám ngước nhìn lên khỏi vị trí của mình và nhìn thấy điều gì đó lớn lao hơn, bất kể họ là người theo Cơ Đốc giáo hay không theo Cơ Đốc giáo. Bất cứ ai hành xử hơi khác một chút, bất cứ ai có vẻ ngoài hơi khác một chút.

 

D: Nếu họ làm những điều như vậy thì nghe chẳng có vẻ gì là tôn giáo cả.

 

B: Không. Đó là lý do tôi không được nuôi dạy trong Giáo hội.

 

D: Cô nói cô nghĩ Công tước đã lấy một số điều trong tín ngưỡng của các cô rồi bóp méo chúng.

 

B: Vâng.

 

D: Cô có nghĩ đó là những gì ông ta làm trong căn phòng trên tháp không?

 

B: Vâng. Ông ta triệu gọi những thế lực thuộc về mặt tà ác của mọi thứ. Nhưng Tòa án Dị giáo không dám động đến ông ta, vì ông ta quá quyền lực. Vì vậy, họ trút mọi thứ lên những người trong chúng tôi, những người không thể chống trả.

 

D: Vậy cô phải rất cẩn thận. Tôi từng nghe đôi chút về truyền thống xưa. Cô có thể kể cho tôi thêm một chút về ý nghĩa của nó không?

 

B: Chúng tôi tuân theo những chu kỳ của Trái Đất. Có những quyền năng trong Trái Đất và Mặt Trăng, qua đó nữ thần hiển lộ bản thân. Nếu bạn làm việc hòa hợp với những quyền năng này, những điều kỳ diệu có thể xảy ra trong cuộc đời bạn.

 

Đó là một trong những lý do tôi không lo lắng về Roff và Phu nhân Joslyn. Bởi lùm cây nơi tôi đưa anh ấy đến, khi chúng tôi ra ngoài vào ban đêm, là một nơi quyền năng đặc biệt. Và mỗi lần chúng tôi đến đó, mối liên kết giữa chúng tôi lại trở nên mạnh mẽ hơn.

 

D: Tại sao đó lại là một nơi có quyền năng đặc biệt?

 

B: Đó là một lùm cây dành cho nữ thần. Nó gồm mười ba cây sồi.

 

D: Các cô có tụ họp ở đó hoặc thực hiện những nghi lễ nào không?

 

B: Có. Nhưng tôi không được phép nói về chuyện này.

 

D: Không sao. Nhưng tôi muốn cô hiểu rằng cô có thể tin tưởng tôi. Khi nào cô sẵn sàng, một ngày nào đó cô có thể kể cho tôi nghe. Bởi cô biết tôi sẽ luôn lắng nghe cô. Nhưng nữ thần có tên không? Hay bà ấy chỉ được gọi là “nữ thần”?

 

B: Chúng tôi chỉ gọi bà ấy là nữ thần. Người ta nói bà ấy có rất nhiều tên, tương ứng với nhiều diện mạo khác nhau của bà. Bởi nữ thần luôn thay đổi theo các mùa và theo những tuần trăng. Vì vậy, bà có rất nhiều tên để thể hiện tất cả những điều đó. Rất phức tạp nếu phải nhớ hết mọi cái tên. Vì thế, chúng tôi gọi bà là nữ thần hoặc Mẹ Đất.

 

D: Như vậy dễ dàng hơn nhiều. Vậy các cô chỉ gọi tôn giáo của mình là “truyền thống xưa” sao?

 

B: Vâng.

 

D: Nó không có tên nào khác sao?

 

B: Theo những gì tôi biết thì không. Đó chỉ là cách chúng tôi gọi nó.

 

D: Được rồi. Nhưng nghe có vẻ cô vẫn gặp rắc rối với Phu nhân Joslyn.

 

B: Không sao. Chúng tôi biết rằng sớm hay muộn mọi thứ cũng phải trở về trạng thái cân bằng. Cô ta đang đẩy phần của mình trên cán cân đi quá xa. Và khi cán cân trở về vị trí cân bằng vốn có, cô ta sẽ bị hủy diệt trong quá trình đó.

 

D: Mọi chuyện vận hành như vậy sao?

 

B: Vâng. Đó là lý do cô phải luôn giữ sự hài hòa, để bản thân không bị hủy diệt vì làm mọi thứ mất cân bằng.

 

D: Cô từng có người yêu nào khác trong ngôi nhà này chưa?

 

B: Không. Có một vài quý tộc trẻ từng cố ép buộc tôi, nhưng Roff đã ngăn họ lại.

 

D: Vậy anh ấy gần như là người duy nhất?

 

B: Anh ấy là người duy nhất.

 

D: Vậy một thị đồng làm những gì trong ngôi nhà? Họ có những nhiệm vụ nhất định phải làm không?

 

B: Có. Khi một cậu bé mới đến đây để được đào tạo, cậu ấy sẽ trở thành một thị đồng. Cậu ấy làm nhiều công việc giống như những người hầu, nhưng mục đích là để học cách vận hành bên trong của cả hệ thống. Cậu ấy phục vụ các hiệp sĩ hoặc lãnh chúa và luôn ở bên họ. Cậu ấy giúp họ mặc quần áo, mang thức ăn và đồ uống đến phòng khi họ muốn, đồng thời chuyển các thông điệp cho họ.

 

Khi lớn hơn, cậu ấy trở thành một thị vệ. Khi đó, cậu ấy giúp hiệp sĩ hoặc lãnh chúa chăm sóc vũ khí. Cậu ấy giúp đánh bóng và bảo quản chúng, giúp họ mặc giáp để ra trận hoặc chuẩn bị cho những công việc quốc sự tương tự, đồng thời đóng vai trò như một trợ tá cho họ.

 

Trong thời gian đó, bản thân cậu ấy cũng được các bậc thầy về vũ khí huấn luyện cách sử dụng vũ khí. Khi đạt đến một trình độ nhất định, cậu ấy bắt đầu thực hiện những công việc mà các hiệp sĩ làm để được đào tạo thực tế, cho đến một ngày có thể trở thành một hiệp sĩ.

 

D: Vậy họ phải trải qua tất cả những giai đoạn khác nhau này trước khi có thể trở thành hiệp sĩ?

 

B: Vâng.

 

D: Anh ấy cũng sinh ra trong ngôi nhà này sao?

 

B: Roff à?

 

D: Đúng.

 

B: Không. Con trai của các gia đình quý tộc luôn được gửi đến một gia đình khác để được đào tạo, nhằm bảo đảm rằng họ được huấn luyện đúng cách.

 

D: Vậy anh ấy đến từ một nơi khác. Còn một hiệp sĩ, đó có phải là địa vị cao nhất mà anh ấy có thể đạt được không?

 

B: Không. Chỉ là quá trình đào tạo của anh ấy sẽ kết thúc ở đó. Anh ấy sẽ hoàn thành toàn bộ quá trình huấn luyện cần thiết để có thể đảm nhận một vị trí trong xã hội.

 

D: Nhiệm vụ của một hiệp sĩ là gì?

 

B: Một hiệp sĩ bảo vệ và chiến đấu. Hiệp sĩ cũng hộ tống những người quan trọng và bảo vệ họ khỏi trộm cướp và những kẻ cướp đường. Ngoài ra, nếu Công tước cần gửi một thông điệp quan trọng đến một nơi xa, hiệp sĩ sẽ mang thông điệp đó đi, mang câu trả lời trở về và bảo đảm rằng không ai ngăn cản anh ấy trên đường đi.

 

D: Chúng tôi có một từ để gọi một người là “lính”. Tôi nghĩ có lẽ anh ấy cũng giống như vậy. Cô nói anh ấy làm nhiệm vụ bảo vệ.

 

B: Tôi không biết từ đó.

 

D: Nó rất giống. Họ cũng có vũ khí và làm nhiệm vụ bảo vệ.


B: Và thường vào những thời kỳ hòa bình, khi các hiệp sĩ không có nhiều trận chiến để tham gia, họ tổ chức những cuộc thi mang tính vui chơi để duy trì kỹ năng chiến đấu, nhờ đó họ luôn ở trong trạng thái tốt nhất để bảo vệ mọi người.

 

D: Tôi từng nghe nói về những cuộc thi như vậy. Cô có được xem không?

 

B: Ồ, có chứ. Đó luôn là một ngày hội lớn và mọi người đều được xem. Tất nhiên, những người hầu phải ở đúng vị trí của mình và không được hòa nhập với giới quý tộc. Nhưng dù vậy, xem vẫn rất vui, và tôi luôn cổ vũ cho Roff.

 

D: Những cuộc thi này thường được tổ chức vào ngày lễ nào?

 

B: Ý bạn là gì?

 

D: Cô nói chúng thường diễn ra vào một ngày lễ?

 

B: Vâng. Bất cứ khi nào sắp có một cuộc đấu thương, mọi người...

 

D: Ồ, họ biến ngày đó thành ngày hội.

 

B: Vâng.

 

D: Ồ, tôi cứ nghĩ nó diễn ra vào một ngày lễ cụ thể.

 

B: Ngày Mayday luôn là một ngày lớn để tổ chức đấu thương.

 

D: Tại sao Mayday lại quan trọng?

 

B: Chúng tôi biết lý do thực sự, mặc dù Giáo hội sẽ không thừa nhận điều đó. Đó là một ngày quan trọng trong Truyền thống xưa. Và như vậy, nó đánh dấu sự khởi đầu của mùa xuân và sự sống mới của Trái Đất.

 

D: Tôi cứ nghĩ mùa xuân bắt đầu sớm hơn.

 

B: Thực ra đúng là như vậy. Những người theo Truyền thống xưa như chúng tôi biết điều đó, và chúng tôi tổ chức lễ này sớm hơn. Nhưng những người không theo Truyền thống xưa mà có liên quan đến Giáo hội thì không biết điều này. Vì vậy, họ tổ chức lễ vào ngày Mayday.

 

D: Tại sao Giáo hội lại tổ chức lễ vào Mayday?

 

B: Giáo hội có lý do riêng của họ. Tôi không biết. Chắc hẳn trong quá khứ có một vị thánh nào đó đã làm một việc gì vào ngày Mayday.

 

D: Vậy họ có thể lấy điều đó làm cái cớ để tổ chức lễ?

 

B: Vâng.

 

D: Chà, tất cả những điều này thật thú vị. Tôi rất cảm kích vì cô đã kể cho tôi nghe. Tôi có thể quay lại lần nữa để nói chuyện với cô về những điều này không?

 

B: Vâng.

 

D: Và đến thăm cô như thế này nữa?

 

B: Vâng.

 

D: Cô hiểu rằng tôi không có ý làm hại cô, đúng không?

 

B: Bạn có cảm giác giống như một linh thể thân thuộc. Nhưng tôi phải chờ thêm một chút và chắc chắn rằng bạn vượt qua được thử thách.

 

D: Ồ? Loại thử thách gì?

 

B: Bạn sẽ biết khi nó đến.

 

D: Hừm. Thật thú vị. Cô định thử thách tôi sao?

 

B: Có thể. Hoặc cũng có thể là một người khác.

 

D: Điều gì sẽ xảy ra nếu tôi không vượt qua được thử thách?

 

B: Khi đó tôi sẽ xua đuổi bạn và không nói chuyện với bạn nữa.

 

D: Tôi không lo. Bởi tôi biết mình không có ý làm hại cô.

 

B: Điều đó sẽ có ích cho bạn khi đối mặt với thử thách.

 

D: Tôi chỉ tò mò và muốn biết nhiều điều. Đó là lý do tôi hỏi rất nhiều câu hỏi. Nhưng tôi sẽ không bao giờ làm tổn thương cô theo bất kỳ cách nào.

 

B: Tốt, bởi bạn sẽ không được phép làm như vậy.

 

D: Nhưng tôi chỉ thích đến thăm và trò chuyện với cô. Nếu cô có điều gì muốn kể cho ai đó nhưng không muốn bất kỳ người nào khác biết, tôi luôn sẵn lòng lắng nghe.

 

B: Được thôi.

 

D: Ai cũng cần một người như vậy.

 

B: Vâng.

 

Đó là tất cả những gì Astelle chịu kể cho tôi về “thử thách” bí ẩn sẽ được thực hiện. Tôi đưa Brenda trở lại trạng thái tỉnh táo hoàn toàn và không nói với cô ấy về sự tò mò của tôi đối với việc thử thách đó sẽ bao gồm những gì, cũng như nó sẽ được thực hiện khi nào và bằng cách nào. Liệu tôi có nhận thức được nó hay không? Tôi hoàn toàn không biết Astelle đang chuẩn bị điều gì cho tôi. Nhưng tôi biết mình sẽ phải giành được sự tin tưởng của cô ấy nếu muốn cô ấy tiếp tục chia sẻ thông tin với tôi.

 

Đặc biệt, tôi muốn biết thêm về việc thực hành “Truyền thống xưa”.


Đăng nhận xét