Teal Swan Transcripts 836 - 🔍⚖️🧩🔄🌱Vậy sự đổ lỗi (quy trách nhiệm) có mối liên hệ như thế nào với ý thức?

Hiểu đúng về quy trách nhiệm, nhân quả và chữa lành: cách nhận diện nguyên nhân mà không rơi vào đổ lỗi, tự trách hay bất lực.

 

Teal Swan Transcripts 836


Vậy sự đổ lỗi (quy trách nhiệm) có mối liên hệ như thế nào với ý thức?

 

19-09-2026





👉 Tóm tắt nội dung:  Quy trách nhiệm thường bị xem là tiêu cực trong tâm lý học phát triển bản thân và các cộng đồng tâm linh. Tuy nhiên, xác định nguyên nhân của một kết quả tiêu cực là một phần quan trọng của nhận thức, giúp chúng ta hiểu vấn đề, xác định trách nhiệm và tìm ra giải pháp thực sự. Bài viết phân tích sự khác biệt giữa việc xác định nhân quả lành mạnh và những cách sử dụng quy trách nhiệm mang tính độc hại, như đổ lỗi, thao túng, tự trách hoặc né tránh trách nhiệm. Khi nhìn nhận vấn đề với sự tò mò và tỉnh thức, chúng ta có thể thấy rõ nguyên nhân gốc rễ, bối cảnh, vai trò của mỗi người và mở ra khả năng chữa lành, thay đổi tích cực.

 

 

---------

 

 

Quy trách nhiệm là một trong những điều đã bị liệt vào danh sách những khái niệm bị phản đối trong tâm lý học phát triển bản thân và các cộng đồng tâm linh. “Quy trách nhiệm” đã trở thành một từ mang hàm ý tiêu cực. Kết quả là gần như không ai có một góc nhìn chính xác và lành mạnh về việc quy trách nhiệm, và đó chính là lý do tại sao hôm nay chúng ta sẽ nói về chủ đề này. Để có thể thực hiện cuộc trò chuyện này, chúng ta cần bóc tách khái niệm quy trách nhiệm ra khỏi những gánh nặng cảm xúc mà con người đã gắn vào nó.

 

Chúng ta cũng cần xem xét một số vấn đề về mặt ngữ nghĩa. Trước hết, hãy định nghĩa thế nào là quy trách nhiệm. Quy trách nhiệm cho một người có nghĩa là quy nguyên nhân của một kết quả tiêu cực cho người đó, thường là do điều họ đã nói hoặc đã làm, hoặc điều họ không nói hay không làm.

 

Vậy hãy dừng lại ở đây. Có một thực tế đơn giản rằng, bởi vì một trong những quy luật mà vũ trụ này vận hành theo là quy luật nhân quả, nên chúng ta, với tư cách là con người, tạo ra những kết quả. Và vì vậy, điều chúng ta đã nói hoặc đã làm, hay không nói hoặc không làm, có thể là nguyên nhân dẫn đến một kết quả tiêu cực. Có khả năng nhận ra và xác định rõ ràng mối quan hệ nhân quả là một phần quan trọng của sự nhận thức. Việc xác định nguyên nhân là điều thiết yếu để có thể nhìn thấy thực tại, và từ đó đưa ra phản ứng một cách hiệu quả.

 

Điều này vẫn thiết yếu ngay cả khi việc nhìn thấy thực tại khiến chúng ta đau đớn. Và đi kèm với nó là những cảm xúc vô cùng mạnh mẽ từ tất cả các phía. Khi nhìn nhận việc quy trách nhiệm dưới góc độ quy nguyên nhân của một kết quả tiêu cực cho điều một người đã nói hoặc đã làm, thì việc quy trách nhiệm thực sự giúp bạn truy ngược hành vi của con người, bao gồm cả chính bạn, về những nguyên nhân thực sự của nó, chẳng hạn như những trải nghiệm, môi trường sống, động cơ, nỗi sợ và nhu cầu.

 

Bằng cách nhìn thấy mối quan hệ nhân quả một cách rõ ràng, bạn có thể phản ứng với nguyên nhân nằm bên dưới. Ví dụ, điều quan trọng là bạn có thể nhận ra rằng khi trưởng thành, bạn có kiểu gắn bó lo âu, bởi vì có thể mẹ bạn luôn trong trạng thái căng thẳng, sợ hãi hoặc mất cân bằng về mặt cảm xúc, và kết quả là sự hiện diện cũng như khả năng đáp ứng của bà đối với bạn cực kỳ thiếu nhất quán.

 

Điều này giúp bạn hiểu chính mình và thừa nhận nỗi đau của mình. Nó giúp bạn hiểu được điều gì đang xảy ra trong các mối quan hệ của mình. Nó đưa bạn vào con đường tìm kiếm những giải pháp thực sự, trong đó có việc nhắc nhở bản thân rằng cảm giác bạn đang trải qua là do tổn thương gắn bó, chứ không nhất thiết phản ánh những gì đang thực sự xảy ra ở hiện tại.

 

Nhờ vậy, bạn có thể làm những việc như tìm kiếm các công cụ hiệu quả để gia tăng cảm giác an toàn trong mối quan hệ, thay vì chỉ thực hiện những phương pháp thông thường như các kỹ thuật hít thở để làm giảm sự lo âu mà bạn đang cảm nhận. Và nếu bạn đi xa hơn để xác định nguyên nhân gốc rễ dẫn đến những hành vi của mẹ mình, đoán xem điều gì xảy ra? Bạn nhìn thấy thậm chí còn nhiều hơn về thực tại. Điều đó thậm chí có thể tự nhiên làm nảy sinh trải nghiệm đồng cảm.

 

Để đưa ra một ví dụ khác, điều quan trọng là bạn có thể truy nguyên việc mình rút lui khỏi một mối quan hệ về nguyên nhân chẳng hạn như bạn tình cờ nghe thấy người bạn đời của mình nói rằng họ nhớ người yêu cũ. Việc rút lui có phải là phản ứng tốt nhất hay không là điều mà chúng ta có thể có ý thức đặt câu hỏi và khám phá, nhưng nếu không nhận thức được nguyên nhân là gì thì chúng ta không có hy vọng giải quyết vấn đề thực sự.

 

Nếu sau đó người bạn đời nói: “Tôi nói như vậy bởi vì bạn đã quá thụ động, đến mức tôi cảm thấy như mình đang phải tự gánh vác mọi thứ”, thì điều đang xảy ra là chúng ta đã xác định được hai nguyên nhân, và cả hai đều có thể được trực tiếp giải quyết. Có khả năng nhiều người cùng đóng một vai trò nào đó trong vấn đề đang xảy ra.

 

Tôi không nói rằng tất cả mọi người trong một tình huống đều phải chịu trách nhiệm như nhau. Tôi nói rằng có thể có nhiều hơn một người đóng một vai trò trong đó. Khi rơi vào trường hợp này, việc cả hai người đều chịu trách nhiệm đối với phần của mình chính là điều sẽ tạo ra một sự giải quyết thực sự. Nếu không xác định nguyên nhân, chúng ta không thể xác định chính xác ai là người có trách nhiệm, và trong nhiều trường hợp, ai là người nắm giữ quyền lực để tạo ra một giải pháp cụ thể.

 

Bạn không thể sửa chữa điều mà bạn không hiểu. Phân tích nguyên nhân gốc rễ và giai đoạn chẩn đoán cũng quan trọng đối với con người chẳng khác gì đối với bất kỳ thứ gì khác, chẳng hạn như khi phân tích một sự cố trong kỹ thuật. Điều đó trao cho bạn khả năng đưa ra những quyết định có ý thức, dự đoán những kết quả trong tương lai và giải quyết vấn đề một cách hiệu quả.

 

Hãy tiến thêm một bước nữa.

 

Một số định nghĩa về việc quy trách nhiệm còn nói rằng quy trách nhiệm có nghĩa là buộc một người phải chịu trách nhiệm về một kết quả tiêu cực, tức là kỳ vọng họ phải trả lời cho những kết quả do lời nói, lựa chọn hoặc hành động của họ tạo ra.

 

Câu hỏi đầu tiên tôi muốn đặt ra cho bạn là: điều này có gì sai?

 

Hãy thực sự dành thời gian suy nghĩ về nó. Có lẽ bạn không nghĩ rằng việc buộc một người phải chịu trách nhiệm về một kết quả tích cực là có gì sai. Đó chính là ý nghĩa của việc ghi nhận công lao và sự thừa nhận. Tất nhiên, làm như vậy thường dẫn đến lời khen và những điều tích cực. Việc cho rằng buộc một người phải chịu trách nhiệm chỉ áp dụng đối với những kết quả tiêu cực đã bóp méo hoàn toàn ý nghĩa của trách nhiệm. Nhưng đoán xem? Bạn không thể tin rằng một điều là đúng đắn và tốt đẹp mà lại không tin điều còn lại cũng đúng đắn và tốt đẹp. Chúng là hai mặt của cùng một đồng xu.

 

Bạn cần xác định cả mối quan hệ nhân quả lẫn trách nhiệm để có thể hiểu vấn đề đủ sâu và đưa ra những giải pháp thực sự hiệu quả. Đây thực sự là điểm mà tôi không đồng ý với một số chuyên gia về các mối quan hệ khác. Nếu bạn không xác định đúng nguyên nhân và đánh giá đúng trách nhiệm trong một mối quan hệ, thì xung đột thực sự sẽ không được giải quyết.

 

Đó là lý do tại sao khi bạn làm việc với một người nói những điều như: “Chúng ta không cần phải quy trách nhiệm”, thì họ thực chất đang ngăn cản bạn xác định nguyên nhân. Có lẽ bạn sẽ nghe câu nói quen thuộc: “Hãy bỏ qua việc quy trách nhiệm và tập trung vào giải pháp.” Nhưng đây thực chất là một cách né tránh. Nó bỏ qua quá trình then chốt là tìm ra những nguyên nhân gốc rễ, đặc biệt là trong một mối quan hệ.

 

Nếu không hiểu ai và điều gì đã gây ra vấn đề nào, cũng như tại sao nó xảy ra, thì những giải pháp của bạn thực chất sẽ thất bại. Điều đó cũng phá hủy trách nhiệm. Nó đồng thời nuôi dưỡng những mức độ oán giận vô cùng lớn. Bạn không thể ép một người đã phải chịu một hậu quả tiêu cực lập tức chuyển sang một trạng thái tích cực.

 

Niềm tin trong các mối quan hệ sẽ bị xói mòn khi việc duy trì sự tích cực và sửa chữa vấn đề trở nên quan trọng hơn sự thành thật, hoặc hơn việc thừa nhận và chăm sóc những tác động mà vấn đề đã gây ra.

 

Và có một điều đúng với rất nhiều tình huống: chỉ người đang đứng ở vị trí gây ra nguyên nhân trong một tình huống, tức là người phải chịu trách nhiệm, mới là người có khả năng tạo ra sự giải quyết cụ thể cần thiết. Điều này không có nghĩa là người đó sẽ nhận trách nhiệm và chịu trách nhiệm để tạo ra sự giải quyết ấy. Điều đó cũng không có nghĩa là bạn có thể kiểm soát một người để buộc họ làm như vậy. Nó cũng không có nghĩa rằng nếu một người không làm điều đó thì bạn hoàn toàn bất lực trong việc tạo ra bất kỳ sự cải thiện nào. Nhưng đặc biệt trong các mối quan hệ, trách nhiệm là điều quan trọng. Nếu bạn không sẵn lòng xác định nguyên nhân, bạn có thể nói lời tạm biệt với trách nhiệm trong xã hội.

 

Nếu người đang ở vị trí gây ra nguyên nhân không chịu nhận trách nhiệm, và nếu chúng ta không tạo áp lực để họ làm như vậy, thì người còn lại, thậm chí có thể là cả cộng đồng nói chung, sẽ bị buộc phải gánh chịu toàn bộ chi phí.

 

Việc loại bỏ bước xác định nguyên nhân cũng có thể tạo ra một sự tương đương giả tạo. Khi một kết quả tiêu cực xảy ra, việc cho rằng hai người khác nhau và những gì họ làm đều là nguyên nhân ngang nhau dẫn đến kết quả tiêu cực đó thường là một ngụy biện logic. Cách nhìn này bỏ qua những khác biệt rất lớn về bối cảnh, mức độ nghiêm trọng và quy mô. Điều này đặc biệt đúng với những triết lý như “chịu 100% trách nhiệm” hoặc “nguyên tắc quan hệ 50/50”.

 

Khi chúng ta không buộc mọi người, kể cả chính mình, phải chịu trách nhiệm, chúng ta tạo ra một nền văn hóa của thất bại mang tính hệ thống, sự xói mòn niềm tin, hiệu suất kém, sự lan rộng của những thói quen độc hại, bất công và oán giận.

 

Quy trách nhiệm cũng thường là một phần cần thiết của quá trình chữa lành. Nó xác nhận rằng nỗi đau là có thật. Cố gắng né tránh phần này của quá trình chữa lành khiến sự tức giận và tiêu cực quay ngược vào bên trong. Nó khiến một con người mục ruỗng từ bên trong, buộc họ phải mang lấy một góc nhìn tích cực và cảm giác được trao quyền quá sớm, qua đó đè nén thực tế về những tác động đã xảy ra, cũng như những cảm xúc chân thật, hỗn độn và rất con người như căm ghét, tức giận, đau lòng, tổn thương, thất vọng, kinh hoàng, lo âu, buồn bã, xấu hổ, tội lỗi, oán giận và đau buồn.

 

Quy trách nhiệm có chức năng như một sự thừa nhận chính thức rằng một tác động tiêu cực thực sự đã xảy ra. Bạn không thể chữa lành một vết thương mà bạn đang chủ động giả vờ rằng nó không tồn tại hoặc không quan trọng. Tuy nhiên, với tất cả những điều này, nếu bạn muốn chấp nhận việc xác định nguyên nhân, thì điều rất quan trọng là phải bảo đảm rằng bạn đã xác định đúng nguyên nhân. Bởi vì hãy thành thật mà nói, con người thường không đủ nhận thức để nhận ra đâu mới là nguyên nhân thực sự, và vì vậy họ lại chỉ tay vào sai đối tượng. Hãy thử nghĩ đến những phiên tòa xét xử phù thủy.

 

Được rồi, vậy nên miễn là chúng ta có đủ nhận thức về mối quan hệ nhân quả, hãy tiếp tục.

 

Nếu đúng là như vậy, tại sao quy trách nhiệm lại trở thành một từ mang hàm ý tiêu cực đến thế? Tại sao nó lại bị liệt vào danh sách những điều bị phản đối?

 

Câu trả lời nằm ở những gì chúng ta làm với việc quy trách nhiệm, nằm ở những thứ chúng ta gắn thêm vào nó. Dưới đây là danh sách những điều có hại thường được gắn thêm vào việc quy trách nhiệm, cũng như những cách có hại mà chúng ta thường sử dụng nó.

 

Thứ nhất, trong xã hội của chúng ta, bị quy trách nhiệm thường đồng nghĩa với việc bị xem là người xấu, bị hạ thấp, bị làm cho xấu hổ và thường là bị trừng phạt. Để thấy việc quy trách nhiệm gắn chặt với sự sai trái và xấu xa đến mức nào - mà cả hai đều là những mối đe dọa lớn nhất đối với sự gắn kết xã hội, thứ mà chúng ta cần để phát triển khỏe mạnh - hãy nhìn vào câu nói quen thuộc: “Tôi không trách bạn vì...” Điều câu nói này thực sự có nghĩa là: “Tôi không cho rằng bạn sai hay xấu vì...”

 

Ví dụ: “Tôi không trách bạn vì bỏ học, bởi vì trường học thật tệ” có nghĩa là “Tôi không cho rằng bạn sai hay xấu vì bỏ học, bởi vì trường học thật tệ.”

 

Và đoán xem? Nếu chúng ta xem bản thân là nguyên nhân của một kết quả không mong muốn, chúng ta có xu hướng xem bản thân là người xấu, rơi vào trạng thái xấu hổ, hạ thấp chính mình và trừng phạt chính mình.

 

Trên thực tế, định nghĩa về quy trách nhiệm của hầu hết mọi người đều bao gồm chính điều mà chúng ta đã thêm vào khái niệm quy trách nhiệm thực sự. Định nghĩa cá nhân và có ý thức của phần lớn mọi người về quy trách nhiệm thực chất nói về điều này, chứ không phải định nghĩa khách quan của quy trách nhiệm. Đây là lý do tại sao mọi người trở nên cực kỳ phòng thủ khi bị chỉ ra rằng họ đã gây ra một điều gì đó không mong muốn.

 

Thứ hai, khi chúng ta xác định rằng điều một người đã nói hoặc đã làm là nguyên nhân của một kết quả tiêu cực, chúng ta thường tự động gắn thêm ý nghĩa vào điều họ đã nói, đã làm, hoặc không nói và không làm. Chúng ta kể những câu chuyện về những gì họ đã làm và lý do tại sao họ làm điều đó. Chúng ta kể những câu chuyện về tính cách của họ. Những ý nghĩa mà chúng ta thêm vào và những câu chuyện mà chúng ta tự kể không nhất thiết phải chính xác.

 

Ví dụ, giả sử một người bạn đời quên đóng cổng an toàn, và kết quả là em bé của chúng ta ngã xuống cầu thang. Chúng ta có thể ngay lập tức tự kể với bản thân rằng lý do họ không đóng cổng là vì họ không quan tâm đến đứa trẻ. Điều đó sau đó khiến chúng ta phản ứng theo những cách nhất định, nhưng tất cả lại dựa trên một câu chuyện sai lệch và khiến chúng ta xác định sai vấn đề gốc rễ.

 

Nếu chúng ta cố gắng giải quyết vấn đề bằng cách bỏ qua một điều quan trọng - đó là tiếp cận từ góc độ cố gắng khiến người kia quan tâm nhiều hơn, trong khi đó thậm chí không phải là thực tế đang diễn ra - thì sẽ không có sự cải thiện thực sự nào.

 

Thứ ba, khi quy trách nhiệm cho một người, chúng ta có thể rơi vào trạng thái bất lực. Khi xác định người khác là nguyên nhân gây ra nỗi đau của mình, chúng ta có thể vô tình tước bỏ khả năng tự quyết của chính mình và những quyền năng mà mình thực sự có, từ đó khiến bản thân cảm thấy hoặc thực sự bị mắc kẹt và bất lực mãi mãi.

 

Trong thế giới hiện đại này, chúng ta rất coi trọng việc trao quyền cho cá nhân. Chính thực tế rằng con người có thể rơi vào trạng thái mất đi khả năng tự làm chủ khi quy trách nhiệm cho người khác là điều thường khiến những người hoạt động trong các lĩnh vực phát triển bản thân, tâm lý học và tâm linh vứt bỏ cả phần hữu ích cùng với phần có hại, rồi dao động sang thái cực hoàn toàn chống lại việc xác định nguyên nhân và trách nhiệm.

 

Thật sự rất đau đớn khi một người không chịu nhận trách nhiệm và không tự chịu trách nhiệm về những kết quả tiêu cực mà họ gây ra, nhưng điều quan trọng là đừng giới hạn sự tiến bộ của chính bạn bằng cách khiến sự tiến bộ ấy hoàn toàn phụ thuộc vào một điều mà bạn không thể kiểm soát.

 

Thứ tư, quy trách nhiệm có thể được sử dụng như một phần của những động lực kiểm soát nạn nhân.

 

Khi điều này xảy ra, quy trách nhiệm được sử dụng như một vũ khí kiểm soát. Đó là sự thao túng thông qua việc biến bản thân thành nạn nhân. Người muốn kiểm soát đang tìm cách kiểm soát một cách ngấm ngầm bằng cách thay đổi cán cân quyền lực, tự động giành lấy vị thế đạo đức cao hơn, tự đặt mình vào vai người tốt, người bị tổn thương, bị đàn áp hoặc bất lực. Điều này buộc người kia vào vai kẻ làm sai, người phải bù đắp hoặc xoa dịu họ.

 

Về cơ bản, thông điệp là: “Hãy làm điều tôi muốn để bạn không trở thành kẻ xấu.” Người muốn kiểm soát sẽ lôi kéo những người khác tham gia vào câu chuyện này để có thể cô lập người mà họ muốn kiểm soát, vô hiệu hóa bất kỳ khả năng tự vệ nào mà người đó có thể có, rồi sử dụng những người khác để chống lại họ. Những người bên ngoài bị đánh lừa và trở thành người bảo vệ kẻ thao túng.

 

Thứ năm, chúng ta có thể sử dụng việc quy trách nhiệm như một cách để bảo vệ cái tôi của chính mình. Khi làm vậy, chúng ta quy trách nhiệm cho người khác để né tránh trách nhiệm của bản thân. Và chúng ta làm điều đó đặc biệt để không phải nhìn nhận bản thân theo hướng tiêu cực. Nhờ vậy, chúng ta có thể bảo vệ mình khỏi những cảm xúc khó chịu như xấu hổ, tội lỗi, cảm giác không đủ tốt và thất bại.

 

Nếu người khác là người có lỗi, chúng ta không cần phải cảm thấy tồi tệ về chính mình. Việc quy trách nhiệm cho phép bạn tách bản thân khỏi kết quả tiêu cực và tiếp tục xem mình là người tốt trong mắt chính mình. Nó có thể trở thành một cơ chế phòng vệ lòng tự trọng. Điều này hoàn toàn ngăn cản sự tự nhận thức và sự phát triển cá nhân.

 

Thứ sáu, nếu một kết quả tiêu cực xảy ra, chúng ta có thể rơi vào trạng thái vô thức tin rằng nhất định phải có ai đó bị quy trách nhiệm, ngay cả khi thực tế là trong một tình huống cụ thể, không có bất kỳ một cá nhân nào có thể bị quy trách nhiệm.

 

Điều này thường xảy ra khi nguyên nhân liên quan đến nhiều yếu tố mang tính hệ thống, cùng những biến số và hoàn cảnh không thể dự đoán trước. Có thể không có bất kỳ ai đáng bị quy trách nhiệm, ngay cả khi một người cụ thể chịu trách nhiệm giám sát để bảo đảm một kết quả tích cực xảy ra. Ví dụ, một thuyền trưởng thường được kỳ vọng phải trả lời về việc con tàu bị chìm do một con sóng bất thường không thể dự đoán trước. Nhưng nói rằng thuyền trưởng phải chịu trách nhiệm cho sự xuất hiện của con sóng bất thường đó thì về mặt thực tế và logic là không chính xác.

 

Họ có thể phải chịu trách nhiệm vì đã không theo dõi các báo cáo khí tượng hoặc không tránh việc điều hướng không cần thiết trong điều kiện biển dữ dội có mức độ rủi ro cao hơn. Nhưng cũng có thể họ đã làm mọi thứ trong khả năng và phạm vi trách nhiệm của mình một cách đúng đắn, và vì vậy hoàn toàn không đóng bất kỳ vai trò nào ở cấp độ nguyên nhân đó trong thảm họa. Con người có một vấn đề là luôn cần phải tìm ra ai đó để quy trách nhiệm, ngay cả khi trong tình huống thực tế hoàn toàn không có ai đáng bị quy trách nhiệm.

 

Thứ bảy, khi nói đến việc quy trách nhiệm, chúng ta có thể không nhìn thấy bức tranh lớn hơn của mối quan hệ nhân quả. Tầm nhìn của chúng ta trở nên hạn hẹp.

 

Ví dụ, đúng là nếu một người bắn một người khác, thì người nổ súng là người phải chịu trách nhiệm về việc người kia bị thương hoặc tử vong. Tuy nhiên, câu chuyện về nguyên nhân còn đi xa hơn thế. Tại sao? Bởi vì không có đứa trẻ nào ngồi trên sàn lớp mẫu giáo và nói: “Tôi muốn lớn lên để bắn một người.”

 

Có thể chúng ta phát hiện ra rằng người này lớn lên trong cảnh túng quẫn về tài chính, bị bỏ bê vì cha họ rời đi còn mẹ họ thì đang trong tình trạng hỗn loạn, và điều đó đã đẩy họ đến với một băng nhóm, nơi việc sử dụng súng là một phần của cuộc sống trong băng nhóm. Nếu đúng như vậy, thì cha và mẹ của họ phải chịu trách nhiệm.

 

Ôi, nhưng hãy đi xa hơn nữa. Điều gì sẽ xảy ra nếu việc thiếu khả năng tiếp cận các hỗ trợ xã hội, nền giáo dục chất lượng, cơ hội việc làm và các chương trình dành cho thanh thiếu niên khiến những người trong cộng đồng đó gần như không còn con đường khả thi nào để cải thiện vị thế của mình, và vì thế khiến họ cuối cùng lại trở thành giống như cha mẹ của mình? Vậy ai phải chịu trách nhiệm? Chính phủ sao?

 

Được thôi, nhưng việc quy trách nhiệm thường trở thành một câu chuyện cứ tiếp tục quay ngược lại, rồi lại quay ngược lại, rồi lại quay ngược lại, cho đến khi bạn không còn có thể truy tìm nguồn gốc của mối quan hệ nhân quả nữa.

 

Khi quy trách nhiệm, chúng ta có thể tập trung một cách hạn hẹp và hoàn toàn vào một cá nhân cùng những gì họ đã làm hoặc không làm. Điều đó có thể khiến chúng ta bỏ lỡ một câu chuyện lớn hơn và phức tạp hơn rất nhiều về mối quan hệ nhân quả, bao gồm cả những khiếm khuyết mang tính hệ thống ở quy mô lớn hơn, vốn đã góp phần tạo ra kết quả tiêu cực ngay từ đầu. Một phần của việc không nhìn thấy bức tranh lớn hơn về mối quan hệ nhân quả là chúng ta không nhận ra rằng có thể có nhiều hơn một người cùng đóng vai trò trong việc tạo ra nguyên nhân. Điều này đặc biệt đúng trong các mối quan hệ.

 

Ví dụ, giả sử một mối quan hệ đang tan vỡ. Một người trở nên đối đầu và hung hăng, trong khi người kia rút lui để tránh xung đột. Cường độ của người theo đuổi khiến người rút lui càng xa hơn, còn sự im lặng và việc rút lui của người kia lại làm gia tăng sự lo âu của người theo đuổi. Cả hai đều đóng một vai trò trong sự đổ vỡ của mối quan hệ. Chúng ta đặc biệt dễ rơi vào trạng thái mù quáng khi việc quy trách nhiệm khiến chúng ta bắt đầu xem một người là kẻ phản diện, và vì vậy là người xấu, còn bất kỳ ai phải chịu những hậu quả tiêu cực thì đều là người tốt. Kiểu tư duy trắng đen này loại bỏ mọi sắc thái. Nó khiến chúng ta không nhận ra thực tế phức tạp của các mối quan hệ giữa con người với nhau.

 

Điều chúng ta nên rút ra từ đây không phải là vứt bỏ hoàn toàn ý tưởng xác định nguyên nhân, mà là chúng ta cần mở rộng khả năng nhận thức của mình để có thể nhìn thấy sự phức tạp của mối quan hệ nhân quả.

 

Thứ tám, chúng ta cũng có thể sử dụng việc tự quy trách nhiệm để đạt được cảm giác được trao quyền theo những cách độc hại.

 

Chúng ta có thể sử dụng nó như một cách để né tránh cảm giác bất lực và không có quyền kiểm soát. Khi tự quy trách nhiệm cho mình, chúng ta tin rằng mình là người có thể làm gì đó để thay đổi kết quả không mong muốn. Chúng ta đang cố gắng giành quyền kiểm soát mọi thứ, nhưng đồng thời có nguy cơ cố gắng kiểm soát những điều mà cuối cùng nằm ngoài khả năng kiểm soát của chúng ta.

 

Và làm như vậy có thể nghiêm trọng ngăn cản chúng ta đạt được trạng thái hài hòa. Nó cũng có thể ngăn cản chúng ta trải qua trọn vẹn quá trình chữa lành. Việc tự quy trách nhiệm cũng có thể khiến chúng ta mắc kẹt trong những động lực cực kỳ độc hại. Khi nội hóa lỗi lầm, bạn không nhìn thấy thực tế của những người xung quanh mình, đồng thời cũng không nhìn thấy toàn bộ bức tranh về mối quan hệ nhân quả. Và bạn có thể vô thức bào chữa cho hành vi sai trái của người khác, miễn cho họ khỏi việc phải chịu trách nhiệm một cách lành mạnh. Bạn cũng có thể không thiết lập những ranh giới rất cần thiết.  Nhận lỗi có thể là điều chúng ta làm để duy trì sự gần gũi và kết nối với những người đang gây tổn hại cho mình.

 

Nói cách khác, đây là điều thường góp phần nuôi dưỡng sự rối loạn trong các mối quan hệ giữa con người với nhau. Tôi có thể tiếp tục nói về vấn đề này, nhưng điểm mấu chốt là có rất nhiều điều có hại mà chúng ta có thể gắn thêm vào việc quy trách nhiệm. Có rất nhiều điều có hại mà chúng ta có thể làm với việc quy trách nhiệm. Vấn đề là bạn không cần phải gắn những điều có hại vào việc quy trách nhiệm, cũng không cần phải sử dụng nó theo những cách có hại.

 

Ý tôi là thế này: quy trách nhiệm không tự động có nghĩa là bạn sẽ khiến bản thân trở nên bất lực. Quy trách nhiệm cũng không tự động có nghĩa là bạn sẽ sử dụng nó như một công cụ để né tránh trách nhiệm và không nhận ra phần trách nhiệm mà chính bạn phải chịu, tức là vai trò của bạn trong mối quan hệ nhân quả.

 

Nó không tự động có nghĩa là bạn sẽ trừng phạt hoặc hạ thấp một người nào đó. Nó không tự động có nghĩa là bạn sẽ dựng lên những câu chuyện sai lệch và đưa ra những diễn giải sai lệch. Nó không tự động có nghĩa là bạn sẽ rơi vào những động lực kiểm soát nạn nhân. Nó cũng không tự động có nghĩa là bạn sẽ bắt đầu sử dụng việc tự quy trách nhiệm theo những cách độc hại. Nó không tự động có nghĩa là chúng ta sẽ không nhận ra rằng trong một tình huống cụ thể có thể không có bất kỳ một cá nhân nào đáng bị quy trách nhiệm. Nó cũng không tự động có nghĩa là bạn sẽ không nhìn thấy bức tranh lớn hơn của mối quan hệ nhân quả.

 

Vì vậy, hoặc là thứ nhất, chúng ta đồng ý rằng việc quy một kết quả tiêu cực về nguyên nhân của nó là điều tốt - và nguyên nhân đó hoàn toàn có thể là điều chúng ta hoặc người khác đã nói hay đã làm - đồng thời chúng ta đồng ý rằng việc buộc bản thân và người khác phải chịu trách nhiệm về một kết quả tiêu cực là điều tốt.

 

Do đó, chúng ta thay đổi mối liên hệ của mình với từ “quy trách nhiệm”, để từ này không còn được xem là một từ mang hàm ý tiêu cực. Điều này có nghĩa là chúng ta không còn nhầm lẫn bản thân việc quy trách nhiệm với những điều có hại mà chúng ta đã gắn thêm vào nó. Hoặc thứ hai, chúng ta quyết định rằng từ “quy trách nhiệm” đã bị làm cho quá hoen ố bởi những liên tưởng tiêu cực của chúng ta đến mức chúng ta cần sử dụng một từ khác khi nói về việc quy một kết quả tiêu cực về nguyên nhân của nó, đồng thời buộc bản thân và người khác phải chịu trách nhiệm về kết quả tiêu cực đó.

 

Đừng loại bỏ hoàn toàn việc xác định nguyên nhân và trách nhiệm. Hãy có ý thức xác định mối quan hệ nhân quả ở bất cứ nơi nào nó thực sự tồn tại. Và nhân tiện, việc kỳ vọng con người không được bộc lộ cảm xúc khi làm điều này là điều phi thực tế, thậm chí tàn nhẫn. Chúng ta cần dừng lại ở giai đoạn quy kết nguyên nhân trong quá trình quy trách nhiệm, rồi từ đó trở nên hết sức, hết sức có ý thức về những gì chúng ta gắn thêm vào nó và những gì chúng ta làm với nó.

 

Chúng ta cần hết sức ý thức về vấn đề trách nhiệm trong tình huống cụ thể đang diễn ra. Chúng ta cần nhớ rằng một yếu tố trong mối quan hệ nhân quả không nhất thiết tương đương với một yếu tố khác, và một yếu tố trong mối quan hệ nhân quả cũng không loại bỏ hay phủ nhận một yếu tố khác. Trách nhiệm lành mạnh có nghĩa là thừa nhận phần cụ thể của người kia trong tình huống.

 

Nó cũng có nghĩa là thừa nhận phần cụ thể của chính bạn trong tình huống đó. Cùng với phần vai trò mà bất kỳ người nào đảm nhận trong một tình huống là trách nhiệm đi kèm với vai trò đó. Một trong những điều hiệu quả nhất mà chúng ta có thể làm khi có ý thức tham gia vào điều mà chúng ta gọi là quy trách nhiệm chính là trở nên tò mò. Hãy xem tình huống đó như một câu đố cần được giải, trong đó một phần của quá trình là xác định ai đã làm gì, tại sao họ làm điều đó và những tác động đã xảy ra là gì.

 

Điều này chuyển tâm trí của chúng ta từ việc chỉ đơn thuần phán xét sang học hỏi. Sự tò mò giúp phát hiện những nguyên nhân gốc rễ, bối cảnh, những sự đổ vỡ trong quá trình, những khiếm khuyết của hệ thống và những áp lực bên ngoài mà trước đó chúng ta không nhìn thấy. Nó chuyển cuộc trò chuyện từ kiểu giao tiếp một chiều sang giao tiếp hai chiều. Nó cũng giúp vô hiệu hóa những tác nhân kích hoạt cảm xúc. Nó khiến chúng ta từ bỏ những giả định của mình, và bạn sẽ nhận thấy rằng khi bạn sẵn lòng khám phá lý do đằng sau việc con người làm những gì họ làm, điều đó thực sự khiến họ sẵn lòng hơn trong việc thừa nhận sai lầm của mình, chịu trách nhiệm về phần của họ trong mối quan hệ nhân quả, và nhận trách nhiệm để tạo ra sự giải quyết.

 

Nếu chúng ta cho phép điều đó xảy ra, thì việc quy trách nhiệm - hoặc có lẽ bạn muốn gọi nó là sự quy kết - có thể mở ra cánh cửa cho ngày càng nhiều câu hỏi hơn, những cấp độ nhận thức ngày càng sâu sắc hơn, và những thay đổi tích cực ngày càng hiệu quả hơn.

 

Chúc bạn có một tuần tốt lành.

 


 

Link gốc của bài viết

 

https://www.youtube.com/watch?v=CZzUvXNg0qE

 

https://tealswan.com/

 

 

Nếu bạn muốn hiểu sâu hơn về các khái niệm trong cuộc trò chuyện này, bạn có thể đọc thêm các bài sau:

 

- TRÁCH NHIỆM (Tại sao, Khi nào và Làm thế nào để thực hiện)

- Đó là Tự do hay Vô trách nhiệm? (Cam kết với Không cam kết)

- Làm thế nào để vượt qua nỗi sợ trách nhiệm

- Muốn trở thành người tốt ư? Hãy nhận trách nhiệm về những gì khiến bạn trở thành “kẻ xấu”!

- Liệu việc nhận trách nhiệm 100% có phải là điều tốt?

- Tại sao những người thường thức tỉnh lại có quyền lực và trách nhiệm

- Động lực kiểm soát từ vai nạn nhân (thoát khỏi trò chơi kiểm soát trong các mối quan hệ)

- Tam giác địa ngục (Nạn nhân/Kẻ ác/Anh hùng)

 

 

 

Theo dõi trên Facebook

 

https://www.facebook.com/Go-With-The-Earth-110516891516479/

 

Xem toàn bộ thư viện bài viết

 

https://gowiththeearth.blogspot.com/2021/10/tat-ca-sach-co-tai-blogs.html


Đăng nhận xét