Teal Swan Transcripts 819 - 😣🧠💔🫂🩹🌱Vì sao việc phân biệt giữa đau đớn và khổ đau là không hữu ích

Bài viết phân tích vì sao việc tách biệt đau đớn và khổ đau có thể gây hại, đồng thời nhấn mạnh tầm quan trọng của sự thấu hiểu và chữa lành nỗi đau.

 

Teal Swan Transcripts 819


Vì sao việc phân biệt giữa đau đớn và khổ đau là không hữu ích

 

13-06-2026





👉 Tóm tắt nội dung:  Bài viết phân tích vì sao việc phân biệt giữa đau đớn và khổ đau không thực sự hữu ích trong quá trình chữa lành. Tác giả cho rằng quan niệm "đau đớn là điều không thể tránh khỏi, còn khổ đau là một sự lựa chọn" có thể khiến con người tự trách bản thân, phủ nhận cảm xúc, đè nén nỗi đau và thậm chí đổ lỗi cho nạn nhân. Thay vì cố gắng phân loại cảm xúc hay xem nỗi đau là do chính mình tạo ra, bài viết nhấn mạnh tầm quan trọng của việc công nhận mọi nỗi đau là có thật, lắng nghe nguyên nhân gốc rễ, thấu hiểu những sang chấn về tâm lý và sinh học thần kinh, từ đó lựa chọn cách chữa lành phù hợp. Thông điệp cốt lõi là: nỗi đau là một tín hiệu cảnh báo cần được lắng nghe và xử lý bằng sự thấu cảm, chứ không phải bị phán xét hay phủ nhận.

 

 

---------

 

 

Sự khác biệt giữa đau đớn và khổ đau là gì? Đây là một trong những câu hỏi phổ biến nhất mà tôi đã được hỏi kể từ những ngày đầu tiên trong sự nghiệp của mình. Và chính tôi trước đây cũng đã từng đưa ra câu trả lời cho câu hỏi này. Nhưng cuối cùng, việc phân biệt giữa đau đớn và khổ đau lại không hề hữu ích. Trong video hôm nay, tôi sẽ giải thích vì sao.

 

Nhưng trước tiên, hãy bắt đầu từ đầu. Đau đớn được định nghĩa là một cảm giác khó chịu cục bộ hoặc lan tỏa trong cơ thể, hoặc một tổ hợp các cảm giác gây ra sự khó chịu về thể chất từ nhẹ đến nặng, hoặc gây đau khổ về mặt cảm xúc. Khổ đau được định nghĩa là cảm nhận hoặc chịu đựng sự đau đớn hay đau khổ. Như bạn có thể thấy, chỉ riêng định nghĩa của hai khái niệm này cũng không hề cho thấy việc phân biệt giữa chúng có ý nghĩa gì.

 

Khổ đau về cơ bản chỉ đơn giản là cảm nhận hoặc chịu đựng sự đau đớn. Tuy nhiên, ngày nay nhiều người lại phân biệt hai khái niệm này. Vậy họ đang phân biệt như thế nào?

 

Họ quyết định dùng từ đau đớn để chỉ cảm giác thể chất hoặc cảm xúc ban đầu. Nói cách khác, đau đớn là cảm xúc nguyên phát. Còn từ khổ đau thì được dùng để chỉ những gì tâm trí bạn làm với cảm giác đó. Theo cách nhìn này, khổ đau là phản ứng thứ cấp đối với cảm giác đau đớn. Nhìn dưới lăng kính này, đau đớn là điều xảy ra với bạn, còn khổ đau là điều bạn tự tạo ra cho chính mình thông qua những suy nghĩ về điều đang xảy ra hoặc đã xảy ra. Bạn sẽ thấy rằng mọi người thường xem khổ đau là điều dữ dội hơn và kéo dài hơn.

 

Nhưng điều quan trọng nhất là ngày nay, mọi người xem khổ đau là thứ khác với đau đớn về nguồn gốc, về bản chất và đặc biệt là về khả năng chúng ta có thể kiểm soát nó. Đây cũng chính là nguồn gốc của quan niệm rằng khổ đau là một sự lựa chọn.

 

Nếu quay trở lại tận những lời dạy của Đức Phật, bạn sẽ bắt gặp câu chuyện ngụ ngôn về hai mũi tên.

 

Mũi tên thứ nhất, về cơ bản là nỗi đau không thể tránh khỏi, tượng trưng cho sự đau đớn tất yếu là một phần của cuộc sống. Bệnh tật, mất mát, những biến cố khó khăn... tất cả đều thuộc về mũi tên thứ nhất.

 

Mũi tên thứ hai, về cơ bản là phần đau đớn mà chúng ta có thể kiểm soát, tượng trưng cho phản ứng tinh thần và cảm xúc của chúng ta trước mũi tên thứ nhất. Đó là những suy nghĩ khiến chúng ta chống lại thực tại, những ý nghĩa và cách diễn giải mà chúng ta gán cho sự việc, tất cả những điều này đều kéo dài hoặc làm trầm trọng thêm nỗi đau từ mũi tên thứ nhất cũng như những cảm xúc nảy sinh từ chính các suy nghĩ đó.

 

Bài học ở đây là mặc dù bạn không phải lúc nào cũng kiểm soát được mũi tên thứ nhất, nhưng bạn có thể học cách ngừng bắn mũi tên thứ hai thông qua thực hành sự cân bằng nội tại.

 

Vào cuối thế kỷ XIX, các học giả như Max Müller đã xuất bản những bản dịch tiếng Anh quan trọng đầu tiên của các văn bản Phật giáo. Những nhà tâm lý học và triết học phương Tây có ảnh hưởng như Carl Jung, William James, Alan Watts và Eric Fromm đã nghiên cứu những học thuyết tâm linh này, bao gồm cả những quan điểm liên quan đến đau đớn, rồi họ đưa các tư tưởng đó vào công trình của mình.

 

Sau đó, vào những năm 1970, đã diễn ra một làn sóng lớn người phương Tây sang châu Á học hỏi từ các bậc thầy phương Đông rồi mang những tư tưởng đó trở về quê hương. Họ bắt đầu củng cố các quan điểm này bằng những bằng chứng thực nghiệm khoa học, thậm chí còn loại bỏ các yếu tố tôn giáo khỏi những khái niệm đó để tích hợp chúng vào hệ thống chăm sóc sức khỏe, khoa học thần kinh và tâm lý học chính thống.

 

Quan niệm cho rằng đau đớn và khổ đau là hai điều khác nhau đã thâm nhập rất sâu vào tổ chức Alcoholics Anonymous và chương trình 12 bước.

 

Hầu hết mọi người không biết điều này, nhưng thực ra chính từ đây xuất phát câu nói nổi tiếng: "Đau đớn là điều không thể tránh khỏi, nhưng khổ đau là một sự lựa chọn."

 

Câu nói này được sử dụng một cách rất rõ ràng để hướng dẫn quá trình hồi phục. Một người không thể kiểm soát nỗi đau do sang chấn trong quá khứ hoặc những biến cố cuộc đời gây ra, nhưng họ có thể kiểm soát sự khổ đau do việc ám ảnh, chống cự hoặc cố gắng làm tê liệt cảm xúc đối với những sự thật đó.

 

Khái niệm này lan truyền với tốc độ cực kỳ mạnh mẽ. Trong khoảng những năm 1970 và 1980, nó đã trở thành một công cụ tiêu chuẩn trong tâm lý học, tâm linh và lĩnh vực phát triển bản thân. Đến nay, nó là nền tảng của nhiều phương pháp trị liệu, chẳng hạn như DBT và ACT. Nó cũng là nền tảng trong những lời dạy của nhiều giáo viên tâm linh và những người có sức ảnh hưởng như Jon Kabat-Zinn hay Eckhart Tolle.

 

Để giúp bạn nhanh chóng hiểu vì sao nhiều người thấy việc phân biệt giữa đau đớn và khổ đau có lợi, đó là vì nó giúp một người chuyển từ tâm thế của một nạn nhân bất lực sang vị thế có quyền làm chủ bản thân. Nó giúp một người nhận ra mũi tên thứ hai để có thể ngừng bắn nó. Và nó giúp mọi người không còn chống lại thực tại, mà thay vào đó tiếp cận thực tại bằng hành trình cân bằng nội tại.

 

Nhưng hãy để tôi giải thích vì sao việc phân biệt giữa đau đớn và khổ đau lại không hữu ích.

 

Thứ nhất, xét theo đúng định nghĩa thực sự của hai từ này, đau đớn và khổ đau vốn là như vậy, việc dùng từ khổ đau để đại diện cho động lực của "mũi tên thứ hai" thực sự không mang lại lợi ích cho mọi người. Sẽ tốt hơn nhiều nếu chúng ta nghĩ ra một từ hoàn toàn khác để mô tả hiện tượng đó. Điều này sẽ trở nên rõ ràng hơn khi chúng ta tiếp tục.

 

Thứ hai, việc phân biệt hai khái niệm này, đặc biệt là khi nói rằng khổ đau là một sự lựa chọn, thường khiến mọi người càng chống lại đau đớn nói chung nhiều hơn. Mà nhân tiện nói luôn, điều này hoàn toàn trái ngược với một trong những mục đích chính ban đầu của việc phân biệt chúng.

 

Đau đớn là một phản ứng. Sinh học của con người không hề tách bạch rõ ràng giữa thể chất và tâm lý. Trên thực tế, không hề tồn tại một ranh giới rõ ràng giữa nỗi đau thuộc về cảm giác thể chất hoặc cảm xúc ban đầu với nỗi đau do phản ứng tinh thần thứ cấp đối với nỗi đau ban đầu tạo ra. Đối với con người, tất cả chỉ đơn giản đều là đau đớn.

 

Ngoài ra, ai là người định nghĩa đường ranh giới mà mọi người đang vẽ ra đó?

 

Một chuyên gia sẽ nói rằng nỗi đau phát sinh khi bạn bắt gặp người bạn đời của mình đang ở trên giường với người khác chỉ đơn thuần là nỗi đau ban đầu. Một chuyên gia khác sẽ nói rằng chính phản ứng đau đớn ban đầu ấy thực chất đã là khổ đau rồi, bởi vì nó là sản phẩm của những suy nghĩ mà bạn hoàn toàn có thể kiểm soát. Về cơ bản, tâm trí bạn ngay lập tức gán cho sự việc một ý nghĩa nào đó, và vì thế bạn cảm thấy đau.

 

Trong khi đó, một người đến từ một nền văn hóa khác có thể không có cùng cách diễn giải như vậy, nên họ thậm chí sẽ không cảm thấy đau nếu bắt gặp người bạn đời của mình làm điều đó với người khác. Bởi vì ranh giới giữa cái gì là đau đớn ban đầu và cái gì là nỗi đau do chính bản thân tôi tạo ra quá mơ hồ, đồng thời đây cũng là một cuộc tranh luận triết học rất lớn, nên mọi người hoàn toàn bị lạc lối trong mê cung của những lập luận.

 

Chúng ta đang ép mọi người phải cố gắng dùng trí óc để tách biệt dữ liệu thô của đau đớn khỏi phản ứng cảm xúc phát sinh do những gì họ suy nghĩ khi đối diện với nỗi đau đó. Đây không phải là một cách hiệu quả để giúp mọi người xử lý nỗi đau khổ của mình, và ngay cả những bộ óc vĩ đại nhất cũng không thể thống nhất được đường ranh giới này.

 

Kết quả là, hết lần này đến lần khác, tôi chứng kiến mọi người nhìn nhận đau đớn nói chung như thể chỉ cần họ trải nghiệm nó thì điều đó có nghĩa là họ đang làm sai điều gì đó, hoặc như thể đó là một thất bại cá nhân. Như thể họ sẽ không cảm thấy đau nếu họ đủ tỉnh thức hoặc đủ tích cực. Thậm chí còn tệ hơn, bởi vì mọi người gắn khổ đau với những cơn đau dữ dội và kéo dài, nên bất cứ khi nào nỗi đau họ đang trải qua trở nên dữ dội hoặc kéo dài, họ sẽ tự động dán nhãn nó là khổ đau, và từ đó liên kết nó với suy nghĩ rằng: điều này không ổn, điều này không cần thiết, đây là lỗi của tôi. Chà, điều này sẽ khiến bạn ngay lập tức chống lại chính nỗi đau của mình.

 

Thứ ba, việc phân biệt giữa đau đớn và khổ đau, đặc biệt là khi bạn nói rằng khổ đau là một sự lựa chọn, không tự động trao quyền cho con người. Ngược lại, nó có thể trở nên vô cùng phủ nhận trải nghiệm của họ, đồng thời gây tổn hại về mặt tâm lý và cảm xúc.

 

Khi ai đó đang ở giữa một trải nghiệm vô cùng đau đớn, một điều mà không ai trên đời lại tự nguyện lựa chọn, thì điều họ không cần chính là phải đối diện với quan niệm rằng họ đang lựa chọn cảm thấy nỗi đau ấy và hoàn toàn có thể dễ dàng không cảm thấy nó. Điều đó chỉ bổ sung thêm một tầng xấu hổ cho người đang đau đớn, khiến họ phải chịu nỗi đau chồng lên nỗi đau. Nó cũng khiến họ phải ở một mình với nỗi đau của mình.

 

Hàm ý rằng khổ đau là điều bạn tự tạo ra cho bản thân và vì thế là điều có thể lựa chọn, đồng nghĩa với việc nếu bạn đang đau khổ thì về cơ bản đó là lỗi của chính bạn. Và nếu chính bạn gây ra điều đó cho mình thì chẳng ai thấy thương hại bạn, và cũng chẳng ai muốn giúp bạn. Rốt cuộc, nếu bạn cứ tự làm điều đó với chính mình thì gần như bạn đáng phải chịu như vậy.

 

Nếu nỗi đau của một người xuất phát từ việc bị người khác làm tổn hại, thì hệ tư tưởng này thực chất chính là đổ lỗi cho nạn nhân.

 

Câu chuyện "khổ đau là một sự lựa chọn" buộc một cá nhân phải tự sửa chữa chính mình. Điều này hoàn toàn phớt lờ một sự thật sinh học rằng chúng ta là một loài mang tính xã hội và phát triển tốt nhất khi có sự điều hòa cảm xúc lẫn nhau với người khác. Khi một người không thể đơn giản lựa chọn ngừng cảm thấy đau hoặc ngừng suy sụp trước một bi kịch, họ sẽ nội tâm hóa nỗi đau của mình thành cảm giác rằng bản thân đã thất bại. Lúc này họ không chỉ phải đối diện với sang chấn ban đầu mà còn phải gánh thêm cảm giác tội lỗi và xấu hổ nặng nề vì đã bị sang chấn đó ảnh hưởng.

 

Kết luận cuối cùng của tư duy này là: vấn đề không nằm ở hoàn cảnh đau đớn, mà nằm ở việc bạn không thể chấp nhận thực tế hoặc không thể nhìn nhận nó theo một góc độ khác. Nhân tiện, nếu bạn muốn tìm hiểu thêm về điều này, bạn có thể xem video của tôi có tiêu đề "Con người không bám chấp vào nỗi đau của họ."

 

Hệ tư tưởng xoay quanh việc phân biệt giữa đau đớn và khổ đau này thực sự thiếu hiểu biết sâu sắc về sinh lý học và sinh học thần kinh. Nói với một người đang phải đối diện với nỗi đau nghiêm trọng - dù đó là bệnh lý thể chất, sang chấn, khủng hoảng, hệ thần kinh bị tổn hại, mất cân bằng hóa học trong cơ thể, rối loạn hệ vi sinh đường ruột hay ngộ độc nấm mốc - rằng họ đang lựa chọn khổ đau, thì cũng tàn nhẫn và sai lệch chẳng khác nào nói với một người bị gãy chân rằng họ đang lựa chọn việc không đi lại.

 

Lối tư duy xuất phát từ việc phân biệt giữa đau đớn và khổ đau hạ thấp người đang đau khổ, phủ nhận thực tế và xem nhẹ sự phức tạp, thường rất tàn khốc, của những gì họ thực sự đang trải qua.

 

Thứ tư, nó là một công cụ để giảm nhẹ mức độ nghiêm trọng của vấn đề.

 

Khi bạn phân biệt giữa đau đớn và khổ đau, bạn thực sự đang thu nhỏ quy mô của một bi kịch bằng cách chia nó thành hai phần, rồi loại bỏ phần lớn nhất với lý do rằng nó không hợp lệ. Nếu nỗi đau mà bạn đang trải qua bị quy về chỉ là một câu chuyện do chính bạn tạo ra, thì điều đó sẽ làm giảm mức độ nghiêm trọng thực sự của nỗi đau đó. Nhưng đây hoàn toàn không phải là cách người đang chịu đau trải nghiệm nó. Đó chính là một hình thức thao túng tâm lý khiến người khác nghi ngờ thực tại của chính mình.

 

Khi ai đó đang đau khổ, việc bảo họ phải tách biệt đau đớn với khổ đau sẽ làm giảm giá trị trải nghiệm của họ. Điều đó ngụ ý rằng bản thân sự kiện chỉ là một nỗi đau nhỏ và tạm thời, còn nỗi đau kéo dài của họ chỉ đơn thuần là khổ đau do chính họ tự tạo ra. Điều này xem nhẹ mức độ đau đớn của hoàn cảnh và biến một phản ứng hoàn toàn bình thường của con người thành một thất bại cảm xúc bị phóng đại.

 

Chưa hết, khi nỗi đau liên quan đến sang chấn, lối suy nghĩ này còn thu nhỏ một cuộc khủng hoảng thần kinh và sinh học hoàn toàn có thật xuống chỉ còn là vấn đề về thái độ. Trong khi thực tế phức tạp hơn rất nhiều. Việc giảm nhẹ này chuyển trọng tâm khỏi chính hoàn cảnh đau đớn và đặt trọng tâm vào việc liệu bạn có đang suy nghĩ đủ tích cực hay không, có thiền đúng cách hay không, có thực hành sự chấp nhận đủ tốt hay không, hoặc có đang phản ứng quá mức hay không.

 

Điều nó làm là giảm nhẹ mức độ đau đớn khách quan của sự kiện bằng cách biến toàn bộ những gì bạn đang trải qua thành một bài kiểm tra về mức độ trưởng thành cảm xúc và tinh thần của chính bạn. Điều đó thật tàn nhẫn.

 

Thứ năm, việc phân biệt giữa đau đớn và khổ đau thúc đẩy việc né tránh và đè nén những yếu tố quan trọng của sự đau khổ vốn cần được xử lý.

 

Mọi người rất dễ kết luận rằng đau đớn chỉ là khổ đau và vì thế là điều không cần thiết. Điều này có thể khiến một người đè nén, phủ nhận và chối bỏ những cảm xúc của mình, cũng như những sự thật cá nhân đau đớn được chứa đựng bên trong các cảm xúc ấy.

 

Ví dụ, mọi người có thể đè nén nỗi đau mất mát, cơn giận hoặc nỗi sợ hoàn toàn chân thực và rất quan trọng của mình chỉ vì dán nhãn chúng là khổ đau không cần thiết. Ý tưởng này rất dễ trở thành một khái niệm mang tính trí tuệ được sử dụng để né tránh mọi điều tiêu cực. Đó cũng là lý do tại sao nó lại được những người đối phó với cuộc sống bằng sự tích cực độc hại đón nhận một cách nhiệt tình đến vậy.

 

Việc cổ vũ tư duy "khổ đau là một sự lựa chọn" tạo ra một môi trường mà trong đó các cảm xúc tiêu cực bị cấm đoán. Nó buộc mọi người phải duy trì một vẻ ngoài tích cực. Điều này ngăn cản mọi người lên tiếng về những vấn đề hoàn toàn chính đáng, nói ra sự thật, bộc lộ sự mong manh của mình, cũng như thừa nhận và biểu lộ cảm xúc, bởi vì bất kỳ dấu hiệu nào của sự đau khổ sâu sắc đều sẽ bị gạt đi như thể đó chỉ là biểu hiện của một sự thiếu hụt về mặt tâm linh của cá nhân.

 

Sự phân biệt này có thể khiến bạn bỏ qua thực tế về những gì mình đang cảm thấy, bởi vì ngay từ đầu bạn đã coi những cảm xúc đó là không có thật và không cần thiết. Việc liên tục cố gắng phân loại cảm xúc thành đau đớn thuần túy và khổ đau không đáng có có xu hướng cản trở nghiêm trọng khả năng một người xử lý và vượt qua trọn vẹn các cảm xúc của mình.

 

Thứ sáu, nó tạo ra sự tự giám sát và tự kiểm soát một cách ám ảnh.

 

Việc cố gắng kiểm soát từng suy nghĩ của bản thân để ngăn chặn khổ đau sẽ tạo ra thêm một tầng lo âu thứ cấp. Mọi người trở nên cảnh giác quá mức, liên tục kiểm tra cuộc đối thoại nội tâm của mình.

 

- "Có phải ngay lúc này tôi đang tự tạo ra khổ đau cho chính mình không?"

- "Có phải tôi đang làm mọi chuyện trở nên tồi tệ hơn không?"

- "Có phải tôi đang tự làm điều này với chính mình không?"

 

Sự tự phân tích mang tính ám ảnh này làm gia tăng căng thẳng thay vì làm giảm nó.

 

Mà khi bạn đang đau đớn, việc tạo thêm áp lực cho bản thân gần như luôn là cách chắc chắn để bạn càng đau đớn hơn.

 

Thứ bảy, triết lý này rất dễ khiến một người trượt sang quan niệm rằng các điều kiện bên ngoài không quan trọng.

 

Mọi người rất yêu thích ý tưởng này. Con người ghét cảm giác bất lực. Việc tin rằng mình có thể không bị hoàn cảnh tác động khiến họ cảm thấy mình có quyền năng. Đó là lý do họ vô cùng yêu thích những cuốn sách như Đi Tìm Lẽ Sống.

 

Nhưng dù những hiểu biết về nhận thức của con người này có sâu sắc đến đâu, chúng ta vẫn cần nghiêm túc tự hỏi:

 

- Liệu mục tiêu của con người có nên là trở thành người không bị bất cứ điều gì tác động hay không?

- Mặt tối vốn có của quan niệm này là gì?

- Những nguy cơ của nó là gì?

 

Tôi có thể đảm bảo với bạn rằng có rất nhiều.

 

Nói với một người đang đau khổ vì những hoàn cảnh bên ngoài rằng khổ đau của họ chỉ đơn thuần là do thái độ tinh thần chưa đúng chẳng khác nào thao túng tâm lý khiến họ nghi ngờ thực tại của chính mình. Đồng thời, điều đó còn khiến họ tiếp tục chịu đựng những điều mà lẽ ra họ không nên tiếp tục chịu đựng.

 

Nó có thể buộc một người chỉ tập trung vào các khuôn mẫu suy nghĩ bên trong mình thay vì giải quyết nguồn gốc gây tổn hại vẫn đang tiếp diễn ngoài thực tế. Nó cũng khiến chúng ta trở nên thờ ơ với những điều đáng lẽ cần phải được thay đổi.

 

Thực sự, bạn nên cảm thấy lo ngại về việc quan điểm này có thể đi xa đến mức nào. Bởi vì việc phân biệt giữa đau đớn và khổ đau, trong đó khổ đau được xem hoàn toàn là một lựa chọn mang tính cá nhân và nội tâm, rất dễ dẫn đến kết luận rằng xã hội không có nghĩa vụ giúp đỡ những người đang gặp khó khăn. Nó có thể miễn trừ trách nhiệm cho chính phủ, cộng đồng, các tổ chức và cả mỗi chúng ta khỏi trách nhiệm phải giúp đỡ khi có thể, sửa chữa những hệ thống đã hỏng, giảm bớt nghèo đói hoặc xây dựng các mạng lưới an sinh xã hội. Và danh sách này còn kéo dài.

 

Nó có xu hướng chuyển toàn bộ gánh nặng của những thất bại mang tính hệ thống và cấu trúc của cả tập thể lên vai từng cá nhân. Không ai trong chúng ta nên cho rằng điều đó là chấp nhận được.

 

Tệ hơn nữa, nguyên tắc phân biệt giữa đau đớn và khổ đau thực sự làm thay đổi cách chúng ta nhìn nhận trách nhiệm. Điều này đặc biệt quan trọng khi nói đến hành vi lạm dụng hay ngược đãi, bởi vì nó khiến người bị tổn hại phải chịu trách nhiệm về nỗi đau mà họ đang trải qua thay vì người đã gây ra tổn hại.

 

Thứ tám, chúng ta không nên định nghĩa theo cách này, nhưng hãy tạm giả sử chúng ta đồng ý với mọi người và định nghĩa khổ đau là phản ứng thứ cấp đối với cảm giác đau đớn ban đầu.

 

Tức là những gì bạn tự làm với chính mình thông qua những suy nghĩ về điều đang xảy ra hoặc đã xảy ra.

 

Điều mà những người luôn muốn biến thế giới thành một nơi đơn giản, trắng đen rõ ràng không hiểu là thế này: Khi một điều gì đó xảy ra, phản ứng của bạn đối với nó diễn ra ngay lập tức. Tiềm thức lập tức trào lên phía trước. Và nó diễn ra nhanh đến mức không một ai có thể phân biệt được điều gì đang gây ra đau đớn và điều gì không. Họ không thể biết cái gì là cái gì, cũng không thể biết điều gì đang tạo ra điều gì.

 

Phản ứng thứ cấp này, vốn thực sự xảy ra ngay lập tức, thường là một mớ hỗn độn nhiều tầng lớp. Nó không giống như việc phết thêm lớp kem lên một chiếc bánh. Nó giống như một món cà ri Ấn Độ, hay đúng hơn là giống món lasagna thất bại của dì Mildred đã biến thành một hỗn hợp loãng nhão.

 

Ví dụ, giả sử bạn gặp một vụ tai nạn ô tô. Ngay trong khoảnh khắc đó, bạn có thể bị nhấn chìm bởi nỗi đau từ các chấn thương nghiêm trọng trên cơ thể và trạng thái sốc sinh lý. Chỉ vài giây sau cú va chạm, trải nghiệm đó có thể ngay lập tức làm nảy sinh suy nghĩ: "Mình bị mắc kẹt rồi."

 

Suy nghĩ này vừa có thể là một đánh giá hoàn toàn chính xác về tình huống hiện tại, vừa có thể là điểm khởi đầu của một chứng sợ lái xe kéo dài nhiều năm sau đó. Não bộ lập tức hàn gắn hai điều này lại với nhau, bởi vì bộ não được thiết kế để học hỏi từ nguy hiểm ngay tức khắc nhằm giúp bạn sống sót nếu điều tương tự xảy ra trong tương lai.

 

Và mọi chuyện cũng diễn ra theo cách tương tự đối với những nỗi đau và những mối đe dọa mang tính cảm xúc hoặc tâm lý. Đột nhiên bạn bắt đầu hoảng loạn về tài chính và cảm thấy áp lực tiền bạc đang đè nặng lên mình. Bạn sợ mất việc. Bạn cảm nhận cú đánh đau đớn khi nghĩ đến việc mình sẽ phải phụ thuộc vào người khác. Những ký ức đau thương về việc từng bị đối xử như một gánh nặng ùa về. Những hình ảnh đầy sợ hãi về việc một mối quan hệ tan vỡ vì đối phương phải gánh thêm áp lực, bao gồm cả việc phải chăm sóc bạn. Tất cả những liên tưởng tồi tệ mà bạn có về các sĩ quan cảnh sát.

 

Mẩu hài hước đen tối mà bạn tiếp thu được trong khóa học sơ cứu đầu tiên của mình.

 

Nó đại loại như thế này:

 

Người đứng xem: "Anh ấy bị gãy chân rồi."

 

Nhân viên cấp cứu: "Mọi người lùi lại."; "Để chúng tôi làm rơi chiếc cáng nặng xuống cái chân còn lại của anh ấy cho hai chân cân xứng."

 

Và cùng với đó là nỗi kinh hoàng rằng những người đến ứng cứu sẽ khiến mọi chuyện tệ hơn chứ không phải tốt hơn.

 

Bạn cảm thấy một nhu cầu mãnh liệt là chỉ muốn được một người thân quen ôm lấy. Trong suốt thời gian đó, não bộ của bạn đã bắt đầu hình thành những liên kết tiềm thức mang tính lâu dài. Nó gắn dữ liệu cảm giác, mùi cao su cháy, tiếng kính vỡ với nỗi kinh hoàng dữ dội. Sự đau khổ của con người hoạt động giống như một vòng lặp phản hồi tăng dần với tốc độ rất nhanh. Một phản ứng ngay lập tức tạo ra phản ứng kế tiếp, xóa nhòa mọi ranh giới rõ ràng giữa đau đớn và khổ đau.

 

Khi chúng ta đang trải qua nỗi đau dữ dội, đặc biệt nếu một phần của nỗi đau đó là cảm nhận về sự nguy hiểm, bạn sẽ mất khả năng nhận thức để lùi lại, quan sát cảm xúc của mình một cách khách quan và sắp xếp chúng vào những ngăn riêng biệt. Mọi thứ chỉ đơn giản được cảm nhận như một làn sóng đau đớn khổng lồ, mơ hồ, trừu tượng, bao trùm mọi thứ.

 

Việc lần mò trong mớ hỗn độn này để tách riêng và xử lý lớp mà mọi người gọi là khổ đau - về cơ bản là phần mà một người tự thêm vào tình huống thông qua việc gán ý nghĩa và diễn giải những gì đang xảy ra - thực sự có một vị trí rất quan trọng trong quá trình chữa lành.

 

Nó cũng có một thời điểm rất quan trọng. Nhưng phải có một mức độ đồng điệu rất lớn để biết khi nào thời điểm và hoàn cảnh đó là thích hợp.

 

Và mọi chuyện không hề đơn giản theo kiểu: "Đó chỉ là những gì tôi tự thêm vào, vậy nên đó là khổ đau, và bây giờ tôi chọn không khổ đau nữa."

 

Tôi sẽ đưa ra chỉ một ví dụ để giải thích điều tôi muốn nói. Giả sử bạn trải qua một điều đau đớn, và điều đó khiến một niềm tin cốt lõi trỗi dậy. Chính niềm tin cốt lõi đó khiến bạn đau khổ hơn.

 

Vậy thì sao?

 

Chỉ vì bạn có thể nhận ra rằng niềm tin cốt lõi này đang làm tăng thêm trải nghiệm của mình, không có nghĩa là bạn có thể đơn giản quyết định rằng mình sẽ không còn tin vào nó nữa. Cần phải có cả một quá trình chỉ để nhổ tận gốc niềm tin đó. Cần rất nhiều trải nghiệm khác nhau để những liên tưởng mang tính sang chấn không còn tồn tại nữa.

 

Và khi nói đến những sang chấn phức hợp, thường sẽ có tầng này chồng lên tầng khác, tầng này nối tiếp tầng khác, kéo dài suốt nhiều năm trời. Ai cũng muốn ngay khi nhận ra một trong những tầng đó thì có thể lập tức lựa chọn không còn khổ đau nữa. Nhưng trên thực tế, đó không phải là cách mà tầng trải nghiệm mà mọi người gọi là khổ đau vận hành.

 

Khi một người đang đau đớn, điều họ thực sự không cần là một bài học về ngữ nghĩa xoay quanh sự khác biệt giữa đau đớn và khổ đau. Họ cũng không cần một bài giảng đầy tính học thuật về sự khác nhau giữa cảm xúc nguyên phát và cảm xúc thứ cấp. Họ cũng không cần phải gánh thêm áp lực nhận thức và căng thẳng tinh thần khi phải có trách nhiệm quan sát nỗi đau của mình một cách khách quan rồi phân biệt nó về mặt triết học thành đau đớn hay khổ đau.

 

Và chắc chắn họ không cần phải chịu thêm áp lực rằng: "Bạn đáng lẽ phải có khả năng tự khiến mình cảm thấy khá hơn." Đè lên trên chính nỗi đau mà họ đang phải chịu.

 

Được rồi, vì tất cả những lý do đó, việc phân biệt giữa đau đớn và khổ đau không hề hữu ích. Điều chúng ta cần làm là phản hồi trước nỗi đau như một điều hoàn toàn chính đáng và quan trọng. Chỉ vậy thôi. Bất kể điều gì đang gây ra nó.

 

Chúng ta làm điều đó bằng cách nhìn thấy nỗi đau, cảm nhận nó, lắng nghe nó, thấu hiểu sâu sắc nó, cũng như hiểu rõ điều gì đang gây ra nó. Và từ những thông tin đó, chúng ta chủ động tìm ra cách tốt nhất để phản hồi trước nỗi đau ấy, sao cho những điều kiện gây ra tín hiệu báo động đó không còn tồn tại nữa. Bởi vì, xét cho cùng, đau đớn chính là một tín hiệu báo động.

 

Chúc các bạn có một tuần tốt lành.

 

 

 

Link gốc của bài viết

 

https://www.youtube.com/watch?v=x9B9z2qK7vo

 

https://tealswan.com/

 

 

 

Nếu bạn muốn hiểu sâu hơn về các khái niệm trong cuộc trò chuyện này, bạn có thể đọc thêm các bài sau:

 

- Hành Trình Cân Bằng Nội Tại (Sự thay thế hiện đại cho Con đường Trung Đạo)

- Chuyển hóa nỗi đau của bạn

- Cách “Chiếc La Bàn Nội Tâm” Dẫn Dắt Bạn Đến Cả Niềm Vui Lẫn Nỗi Đau!

- Mọi người không gắn bó với nỗi đau của họ - Sức khỏe tâm thần

- Khi đủ là đủ – Quyết định buông bỏ nỗi đau

- Bạn có đang thực hiện "công việc bóng tối" để tránh né nỗi đau của mình không?

 

 

 

Theo dõi trên Facebook

 

https://www.facebook.com/Go-With-The-Earth-110516891516479/

 

Xem toàn bộ thư viện bài viết

 

https://gowiththeearth.blogspot.com/2021/10/tat-ca-sach-co-tai-blogs.html

 


Đăng nhận xét