Swaruu Transcripts 052 - 🧲🌀⚛️✨🚀🌠Điều hướng sao 2 (Swaruu) (Phần 3): Công nghệ tàu ngoài Trái đất Taygeta-Pleiades)

Khám phá công nghệ tàu vũ trụ Taygetan với động cơ hấp dẫn, trường hình xuyến điện từ, thiết kế tàu liên sao, bí mật về đĩa bay

 

Swaruu Transcripts 052


Điều hướng sao 2  (Swaruu) (Phần 3): Công nghệ tàu ngoài Trái đất Taygeta-Pleiades)

 

01-10-2019




👉 Tóm tắt nội dung: Bài viết tiếp tục khám phá công nghệ tàu vũ trụ của người Taygetan, tập trung vào hệ thống động cơ trọng lực và ảnh hưởng của chúng đến thiết kế tàu liên sao. Swaruu giải thích rằng các máy phát trọng lực hoạt động bằng cách điều khiển tần số từ trường – trọng lực, cho phép tàu di chuyển, đổi hướng và đạt tốc độ cực cao mà không cần phụ thuộc hoàn toàn vào khí động học truyền thống. Trường hình xuyến điện từ bao quanh tàu đóng vai trò quan trọng trong việc giảm lực cản và hỗ trợ các chuyến bay siêu quang tốc.

 

Bài viết cũng đề cập đến nhiều loại tàu khác nhau của Taygetan và các nền văn minh ngoài Trái Đất, từ tàu Scimitar, tàu vận tải, tàu tuần dương hạng nặng cho đến các tàu được cải tạo từ tiểu hành tinh. Theo Swaruu, hình dạng đĩa bay không phải là thiết kế duy nhất hay tối ưu trong mọi trường hợp; nhiều nền văn minh sử dụng các cấu trúc rất khác nhau tùy vào trình độ công nghệ và mục đích sử dụng.

 

Ngoài ra, bài viết còn bàn về hiện tượng quan sát tàu vũ trụ từ Trái Đất, giả thuyết liên quan đến Oumuamua, giới hạn của nhận thức 3D và cách các vật thể thuộc mật độ cao hơn có thể xuất hiện trong phổ điện từ mà con người quan sát được. Đây là một góc nhìn độc đáo về công nghệ du hành liên sao, động cơ trọng lực, tàu ngoài Trái Đất và bản chất của việc quan sát các vật thể trong không gian.

 

 

---------

 

 

Tiếp nối những thông tin đã được trình bày trong Điều Hướng Sao 1, tôi sẽ không mô tả lại bản chất của các bản đồ nữa mà sẽ tiếp tục từ điểm đó.

 

Vì mọi thứ đều là tần số, và mọi tần số đều biểu hiện vật chất thông qua các sóng dừng và các nút sóng như hệ quả của những bội điều hòa (sóng hài) của chúng, nên một phi thuyền cũng sử dụng cùng một phương pháp để đi vào một địa điểm mới, gọi là điểm đến, giống như cách chúng tôi dùng để biểu hiện một vật thể rắn bằng chùm tia kéo. Điều này đòi hỏi phải quan sát và hiểu bằng toán học không chỉ tần số chính xác của điểm đến mà còn cả các bội điều hòa (sóng hài) của nó.

 

Để một phi thuyền có thể biểu hiện tại điểm đến, điều chúng tôi phải làm là đồng bộ tần số và các bội điều hòa (sóng hài) của vật chất cấu thành con tàu với tần số và các bội điều hòa (sóng hài) của điểm đến, để ma trận năng lượng của nơi đó cùng toàn bộ các thành phần của nó chấp nhận con tàu như một phần trong hệ thống bội điều hòa (sóng hài) của chính nó. Sự chấp nhận này tương đương với việc con tàu được chèn vào điểm đến, hay nói cách khác là con tàu biểu hiện tại đó.

 

Một con tàu đang đứng yên tại vị trí xuất phát sẽ có một tần số xác định và ở trong trạng thái hài hòa năng lượng với môi trường xung quanh. Vào thời điểm con tàu thay đổi tần số và các bội điều hòa (sóng hài) của nó thành tần số của điểm đến bằng cách sử dụng bản đồ tần số, hay bản đồ tần số sao, nó sẽ không còn tương thích về mặt năng lượng với nơi xuất phát nữa mà trở nên tương thích với điểm đến. Đây chính là bước nhảy năng lượng – tần số mà chúng tôi gọi là bước nhảy lượng tử, chuyến bay siêu quang tốc, chuyến bay bẻ cong không gian, hay chuyến bay siêu không gian. Thật sự đây là một cú nhảy từ một địa điểm vật chất ban đầu vào cõi ether, rồi từ cõi ether quay trở lại một địa điểm vật chất khác là điểm đến.

 

Như tôi đã mô tả trong Điều Hướng Sao 1, chúng ta có thể nhận thức hoặc hiểu bản đồ tần số sao bằng cách thay thế các địa điểm và vật thể như hành tinh hay hệ sao bằng các giá trị năng lượng – tần số dưới dạng số học của chúng. Như tôi đã giải thích trước đây, các vật thể có khối lượng lớn sẽ có giá trị tần số số học cao, còn các vật thể nhỏ sẽ có giá trị thấp. Những nơi có vẻ như trống rỗng, chẳng hạn như không gian sâu, không nhận giá trị tần số bằng không mà được gán một ký hiệu năng lượng – tần số thấp, bởi vì không gian không hề trống rỗng mà là môi trường truyền dẫn các sóng trọng lực, những sóng sẽ hình thành nên các vật thể khi chúng đạt được một bội điều hòa (sóng hài) phù hợp và được duy trì ổn định.

 

Hãy đi cùng tôi... hãy theo tôi xuống các tầng kỹ thuật của một phi thuyền!

 

Mỗi chủng tộc đều có tàu riêng, những bí quyết riêng và những phương pháp riêng để chế tạo cũng như đạt được cùng một mục tiêu. Tôi biết cách vận hành và các biến thể công nghệ của nhiều chủng tộc hoặc loài liên sao khác nhau, nhưng tôi sẽ tập trung vào công nghệ của Taygetan, không chỉ vì đó là công nghệ của chúng tôi và là thứ tôi đang có ở đây, mà còn vì nó thuộc hàng tiên tiến nhất. Không phải tất cả các chủng tộc đều sử dụng cùng loại động cơ hoặc cùng một phương pháp.

 

Một con tàu của Taygetan sử dụng 3 cách để di chuyển. Hai trong số đó được xem là các phương thức đẩy, còn phương thức thứ ba là một hình thức biểu hiện dựa trên việc thao tác tần số của chính con tàu.

 

Phương thức đầu tiên rất quen thuộc với tất cả những người đã tìm hiểu về chủ đề UFO:

 

1.- Thao tác trọng lực.

 

Phương thức thứ hai là thông qua phản lực, giống như động cơ phản lực hoặc tên lửa.

 

2.- Động cơ phản lực hoặc tên lửa plasma điện từ năng lượng cao.

 

Phương thức thứ ba là điều thú vị nhất và cũng là phương thức cho phép thực hiện chuyến bay nhanh hơn ánh sáng (và nó không được xem là một dạng lực đẩy như hai phương thức đầu tiên).

 

3.- Nhúng hoàn toàn chính con tàu vào một trường hình xuyến tần số năng lượng cao được điều khiển chính xác bằng máy tính, thao tác trực tiếp lên ether.

 

Thao tác trọng lực

 

Trọng lực là gì?

 

Trọng lực không gì khác hơn là một dòng năng lượng bên trong một môi trường năng lượng tiềm năng gọi là ether, vận hành theo một tần số xác định. Nó không dễ dàng được đo lường từ một tầng hiện hữu có tần số thấp như thực tại 3D của Trái Đất, và những gì có thể được cảm nhận chỉ là các hiệu ứng của nó dưới dạng một lực hút các vật thể lớn hoặc nhỏ. Vì vậy, trọng lực chính là một dòng từ thông có tần số xác định.

 

Nếu nó là một tần số từ trường xác định thì nó sẽ mang tính đặc thù cho từng địa điểm, bởi vì động lực tương tác năng lượng giữa các vật thể, hành tinh, mặt trời, mặt trăng... ở mỗi nơi đều là duy nhất và không thể lặp lại. Trọng lực liên kết trực tiếp với tần số chuyển đổi năng lượng tiềm năng thành một vật thể rắn có khối lượng, và lượng trọng lực mà một vật thể nhận được tỷ lệ thuận với khối lượng của nó.

 

Vì vậy, để thao tác trọng lực hoặc tạo ra trọng lực nhân tạo, điều đầu tiên chúng ta phải làm là phát hiện tần số cơ bản của dòng trọng lực tại điểm hoặc khu vực cụ thể đó, sau đó tạo ra một dòng điện từ có giá trị đối nghịch nhằm trung hòa nó bằng nguyên lý triệt tiêu tần số.

 

Ví dụ, nếu dòng trọng lực của một nơi là 7,83 Hz thì chúng ta phải tạo ra tần số đối nghịch là -7,83 Hz. Điều này tương đương với mức trọng lực bằng không (0), hay trọng lực đã bị triệt tiêu hoàn toàn.

 

Nếu bạn có một tần số là 7,83 Hz và tạo ra -7,84 Hz, thì bạn sẽ có mức trọng lực dư là +0,01 so với tần số nền cần triệt tiêu, tương đương với việc vật thể hoặc con tàu của bạn sẽ từ từ bay lên. Nếu tần số nền là 7,83 Hz nhưng bạn chỉ tạo ra -7,82 Hz thì con tàu sẽ từ từ hạ xuống. Bạn chỉ cần thao tác các tần số mà động cơ tạo ra để điều khiển con tàu hoặc triệt tiêu trọng lực của một nơi.

 

Để thực hiện điều đó, chúng ta có thể sử dụng các thiết bị đo chính xác như giao thoa kế từ trường. Trong đó, một dòng điện ổn định với giá trị đã biết được truyền qua một loạt cuộn dây siêu dẫn. Các cuộn dây này được ghép với một cuộn siêu dẫn khác nhưng được cách ly bằng một môi trường không dẫn điện có độ dày khoảng 30 nanomet.

 

Sự nhảy lượng tử của từng electron giữa hai cuộn siêu dẫn sẽ bị ảnh hưởng trực tiếp bởi sự hiện diện của các trường từ năng lượng cao tương đương với trọng lực. Những khác biệt trong dòng electron giữa hai cực của giao thoa kế, do tác động của trọng lực lên các electron, sẽ được máy tính sử dụng để xác định tần số trọng lực mà cảm biến đang tiếp xúc.

 

Sau đó, máy tính sẽ thực hiện các phép tính cần thiết và từ đó xây dựng một thuật toán điều khiển dành cho các động cơ. Các động cơ này sẽ thay đổi hoặc điều chỉnh tần số đầu ra của chúng theo các chỉ thị và nhu cầu của từng thời điểm.

 

Máy phát trọng lực

 

Chúng rất giống với các máy phát cơ bản dùng cho chùm tia kéo, về cơ bản là cùng một công nghệ, chỉ có kích thước lớn hơn. Chúng được đặt tại những vị trí chiến lược trên thân tàu và tất cả đều hoạt động liên kết với nhau vì chúng phối hợp để tạo ra một hiệu ứng tổng thể bao phủ toàn bộ con tàu. Tuy nhiên, không giống như trường hình xuyến ngâm chìm hoàn toàn dùng cho chuyến bay siêu quang tốc mà chúng ta sẽ nói tới sau, các máy phát trọng lực nhỏ này có thể thay đổi các giá trị của dòng điện từ – trọng lực tại một vị trí, nhiều vị trí hoặc các khu vực cụ thể trên con tàu.

 

Như tôi đã mô tả ở trên, một máy phát trọng lực có thể triệt tiêu tác động của trọng lực hoặc thao tác nó chỉ bằng cách thay đổi các tần số đầu ra. Vì vậy, nếu tất cả các máy phát được cân bằng, con tàu sẽ giữ trạng thái ổn định trong khi bay. Nhưng nếu chúng ta thay đổi giá trị của các máy phát phía trước để trọng lực của Trái Đất tác động nhiều hơn lên phần mũi tàu thay vì phần đuôi, chúng ta sẽ làm cho con tàu nghiêng về phía trước. Nếu thay đổi giá trị ở một bên cánh, con tàu sẽ nghiêng về phía đó.

 

Các máy phát trọng lực hoạt động giống như các bề mặt điều khiển trên máy bay truyền thống, chẳng hạn như cánh liệng và cánh tà. Chúng có thể thay đổi giá trị tổng thể để khiến con tàu di chuyển theo hướng mong muốn bằng cách tạo ra một độ dốc trọng lực ở phía trước. Theo nghĩa đen, con tàu sẽ “rơi” theo hướng mà nó muốn đi.

 

Tôi có một số hình ảnh sơ đồ minh họa. Chúng được lấy từ mạng của các bạn, nhưng vẫn có thể dùng để tham khảo. Chúng được tải từ các trang mạng trên Trái Đất, vì vậy không phải mọi chi tiết trong đó đều áp dụng cho tàu của chúng tôi.

 



Vì các máy phát trọng lực được bố trí khắp thân của những con tàu lớn, nên ở các tàu nhỏ hơn số lượng của chúng cũng được giảm xuống. Điều này cho thấy lý do tại sao người ta thường sử dụng các tàu hình tam giác hoặc các tàu được gọi là TR-3, trong đó một máy phát trọng lực được đặt ở mỗi góc của con tàu, đây là cách bố trí cơ bản nhất.

 

Mặc dù hệ thống đẩy này hoạt động hoàn toàn im lặng và cho phép đạt tốc độ cao, nhưng bản thân nó vẫn không đủ để giúp con tàu đạt tới những vận tốc gần bằng tốc độ ánh sáng, chứ chưa nói đến việc vượt qua tốc độ đó.

 

Một máy phát trọng lực gần như giống hệt, hay nói đúng hơn là cùng nguyên lý với thiết bị được dùng cho chùm tia kéo. Trong cấu hình phổ biến nhất, nó bao gồm nhiều lớp hình cầu quay lồng vào nhau, quả cầu này nằm bên trong quả cầu khác.

 

Mỗi quả cầu được làm từ một hợp chất hoặc vật liệu không dẫn điện nhưng có khả năng chịu nhiệt cực cao, đồng thời được đổ đầy hoàn toàn bằng một chất lỏng kim loại áp suất cao làm từ hợp kim đặc biệt. Chất tương đương gần nhất trên Trái Đất là thủy ngân làm giàu hoặc thủy ngân đỏ. Trong một số mẫu tàu, chính chất này cũng được sử dụng trực tiếp.

 

Các quả cầu quay ngược chiều nhau với tốc độ từ 10.000 đến 100.000 vòng mỗi phút. Sự khác biệt về tốc độ giữa từng quả cầu và mối quan hệ vận động của chúng với các quả cầu khác tạo ra sự thay đổi bên trong về tần số đầu ra của trường trọng lực.

 

Hãy nhớ rằng trọng lực không là gì khác ngoài từ tính ở một tần số cực kỳ cao.

 

Những gì được thể hiện trong các sơ đồ đó chỉ là những kiến thức rất cơ bản liên quan đến động cơ trọng lực. Nhiều khía cạnh trong số đó đã được biết đến trên Trái Đất. Thậm chí người dân bình thường cũng biết đến chúng, nhưng họ không áp dụng. Tôi không nghi ngờ gì rằng một phần kiến thức này đã được truyền lại bởi các chủng tộc khác. Và các starseed cũng truyền tải những thông tin đó.

 

Những hình minh họa sau đây là do chính tôi tạo ra. Chúng dùng để mô tả chuyến bay siêu quang tốc. Chúng không lấy từ mạng. Tôi đã tự làm chúng. Tôi sử dụng các hình ảnh trường hình xuyến từ mạng, một con tàu khoa học viễn tưởng, sau đó dùng Photoshop để thêm các yếu tố cần thiết nhằm minh họa trường hình xuyến bao bọc quanh con tàu khi nó thực hiện chuyến bay nhanh hơn ánh sáng.

 


Đây là con tàu Alcyone được quan sát qua kính thiên văn. Đây là những bức ảnh thật, nhưng đã được tăng cường độ tương phản để làm nổi bật các chi tiết:

 


Tàu Dieslientiplex (hình ảnh rất nổi tiếng):

 


Tàu Hoàng gia Draco:


Một con tàu đang đuổi theo một tên lửa:


Một trong những con tàu của chúng tôi:

 


Robert: Chúng có màu vàng hay đó chỉ là hiệu ứng của bức ảnh?

 

Swaruu (9): Bạn chỉ đang nhìn thấy những vùng nóng trên con tàu, nơi ánh sáng từ Mặt Trời đang chiếu vào.

 

Tàu vận tải của Taygetan:


 

Tàu tuần dương hạng nặng của Centauri:

 


Một tàu khác của Taygetan:

 


Taygetan cũng có các tàu thuộc lớp Scimitar B và Scimitar A. Loại A là tàu đánh chặn, còn loại B là tàu tấn công. Điểm khác biệt là các tàu tấn công nặng hơn. Các tàu Scimitar B đến một địa điểm và triển khai các thành viên trong đội của chúng tôi, phương tiện, thiết bị cùng nhiều thứ khác. Các tàu Scimitar A thì nhanh hơn, nhẹ hơn và được thiết kế để tiếp cận các tàu săn đuổi khác. Các tàu Scimitar có chiều dài khoảng 60 ± 3 mét, được trang bị hai lò phản ứng, cung cấp từ 2,5 đến 3 TEV năng lượng. Phiên bản B có thể mang phi hành đoàn gồm 7 + 1 người, trong khi phiên bản A chỉ có hai thành viên phi hành đoàn, mặc dù chúng vẫn có thể chở thêm người.

 

Được rồi. Tôi đã mô tả sơ lược về cơ chế bay bằng các bộ triệt tiêu từ trường. Bây giờ xin tóm tắt lại về các bộ triệt tiêu trọng lực.

 

Các cảm biến, chủ yếu là loại giao thoa kế, sẽ xác định chính xác các tần số từ trường – trọng lực tại nơi con tàu đang bay. Sau đó, thông tin này được truyền tới máy tính trên tàu, và máy tính sẽ gửi chỉ thị đến từng máy phát riêng lẻ nằm trong thân tàu. Máy tính có thể kích hoạt toàn bộ hoặc chỉ một số máy phát tùy theo thao tác mà con tàu cần thực hiện.

 

Các máy phát sẽ điều chỉnh chính xác tần số đầu ra của trường từ năng lượng cao và tần số cao của chúng (tức trọng lực) bằng cách thay đổi tốc độ hoặc sự chênh lệch tốc độ giữa các quả cầu chứa chất lỏng siêu dẫn. Loại chất lỏng này không được biết đến trên Trái Đất vì nó là một vật liệu đặc biệt có công nghệ rất cao, nhưng chất tương đương gần nhất trên Trái Đất là thủy ngân làm giàu hoặc thủy ngân đỏ (vốn vẫn còn được sử dụng trong một số tàu ngoài Trái Đất). Sự chênh lệch tốc độ này được điều chỉnh theo các tham số và chỉ thị do máy tính cung cấp.

 

Các quả cầu bên trong máy phát trọng lực được chế tạo từ vật liệu composite phi kim loại có khả năng chịu lực động học rất cao cũng như chịu được nhiệt độ cực lớn. Xét về mặt điện từ học, các đặc tính điện từ riêng của vật liệu này đã được loại bỏ, để chúng chỉ còn đóng vai trò như những bình chứa chất lỏng. Nói cách khác, chúng giống như những quả cầu chứa chất lỏng siêu dẫn quay với tốc độ khác nhau và quay ngược chiều nhau.

 

Cơ chế làm quay các quả cầu trong máy phát là bằng điện. Chính các quả cầu này đồng thời hoạt động như khung của một “động cơ điện”, khiến việc lắp đặt các động cơ bên ngoài để kéo cơ cấu quay trở nên không cần thiết. Tốc độ quay điển hình dao động từ 10.000 đến 200.000 vòng mỗi phút.

 

Chỉ riêng các động cơ này đã có thể đẩy một con tàu đạt tới tốc độ gần 50.000 km/giây, tức một phần đáng kể của tốc độ ánh sáng, khoảng một phần sáu tốc độ ánh sáng. Hệ thống này được xem là một dạng động cơ đẩy trọng lực hay hệ thống đẩy bằng trọng lực.

 

Lực hoạt động hay cường độ công suất (do thiếu một thuật ngữ chính xác hơn) của các động cơ tỷ lệ trực tiếp với tổng khối lượng của con tàu. Đây là yếu tố cơ bản quyết định kích thước, cách bố trí và mức tiêu thụ năng lượng của các bộ triệt tiêu trọng lực trên mỗi con tàu.

 

Số lượng tối thiểu các bộ triệt tiêu trọng lực trên một con tàu là 3. Nếu ít hơn con số đó thì không có cách nào kiểm soát con tàu một cách hiệu quả, dẫn đến các kết quả hỗn loạn giống như trường hợp của Die Glocke của Đức Quốc xã, vốn chỉ có một bộ triệt tiêu trọng lực và không kiểm soát được các tần số đầu ra của nó.

 

Robert: Với những động cơ đó thì hình dạng của con tàu không còn quan trọng nữa sao? Nó không cần phải có tính khí động học, đúng không?

 

Swaruu (9): Không quan trọng, nhưng có đấy, trước tiên bạn phải hiểu con tàu sẽ được sử dụng vào việc gì. Nếu con tàu có đi vào khí quyển thì nó vẫn cần một mức độ khí động học nhất định. Mặc dù, nói một cách chính xác thì trường hình xuyến điện từ bao quanh con tàu mới là thứ tạo ra hình dạng khí động học chứ không phải hình dạng của thân tàu. Dù vậy, những con tàu rất tiên tiến như lớp Suzy của Taygetan vẫn được thiết kế với cấu trúc khí động học.

 

Trong trường hợp bay siêu quang tốc, hoặc trong trường hợp sử dụng động cơ phản lực plasma hay động cơ đẩy trọng lực, tức cả ba phương thức, nếu con tàu được bao bọc trong trường hình xuyến điện từ của nó với sự thay đổi mật độ so với môi trường bên ngoài (sự chênh lệch mật độ giữa con tàu và môi trường xung quanh), thì hình dạng của thân tàu trở nên không còn quan trọng. Điều này cho phép ngay cả một con tàu hình khối lập phương hoặc hình viên gạch cũng có thể bay ở tốc độ cực lớn mà không gặp vấn đề gì.

 

Sau khi giải thích điều trên, tôi muốn nói thêm về các tàu hình đĩa, hay lý do tại sao nhiều con tàu có hình đĩa, đặc biệt là các tàu nhỏ. Đó là vì hình dạng này phù hợp nhất để thúc đẩy dòng chảy động của các sóng trọng lực được tạo ra bởi những động cơ nhỏ có công suất tương đối thấp của chúng. Dòng chảy trọng lực động này được gọi là “flux” trên một con tàu. Đối với những con tàu có công suất lớn hơn thì hình dạng đĩa không còn quan trọng nữa.

 


Robert: Tôi cứ nghĩ phần lớn các con tàu đều có dạng đĩa. Nhưng khi tôi thấy hình ảnh mô tả đại khái về Suzy thì tôi nhận ra rằng không phải tất cả đều có hình đĩa hoặc rằng điều đó không thực sự cần thiết.

 

Swaruu (9): Điều xảy ra là các tàu hình đĩa là loại được nhìn thấy nhiều nhất, nếu nói về các chủng tộc tích cực (mặc dù bây giờ thì đủ loại hình dạng đều rất phổ biến). Bởi vì tàu hình đĩa là loại dùng cho vận chuyển cơ bản, chúng giống như xe hơi đối với nhiều chủng tộc. Chúng xuất hiện ở khắp nơi và hầu như ai cũng có một chiếc hoặc nhiều hơn một chiếc.

 

Nói đến đây, hình dạng phổ biến nhất của một con tàu liên sao là gì...? Hãy cho tôi biết bạn nghĩ hình dạng nào là phổ biến nhất?

 

Robert: Hình cầu. Hình xuyến. Hoặc có lẽ nó chẳng có hình dạng nào vì nó chỉ đơn giản là biểu hiện ra.

 

Gosia: Hình cầu, đúng rồi. Hoặc kiểu Meier điển hình ấy.

 

Swaruu (9): Không.

 



Robert: Vậy là gì?

 

Swaruu (9): Hình dạng tiểu hành tinh. Tôi không đùa đâu. Tôi hoàn toàn nghiêm túc.

 

Gosia: Nhưng là cố tình làm như vậy sao? Để trông giống các tiểu hành tinh à?

 

Swaruu (9): Một chủng tộc sẽ bắt giữ một tiểu hành tinh có thành phần phù hợp, thường là giàu kim loại. Họ khoét rỗng nó, đặt động cơ ở phía sau, buồng điều khiển ở phía trước, và thế là họ có một con tàu.

 

Họ tiết kiệm được việc phải chế tạo thân tàu, đồng thời cách này không chỉ mang lại sự bảo vệ khỏi các va chạm trong không gian mà còn cung cấp khả năng ngụy trang. Cần phải làm rõ rằng đây là một giải pháp công nghệ thấp được sử dụng bởi hàng ngàn và hàng ngàn nền văn minh mới chỉ đang thực hiện những bước đầu tiên trong hành trình liên sao.

 

Robert: Oumuamua hay gì đó đại loại như tên của nó. 

 


Swaruu (9): Đối với một chủng tộc đang phát triển, việc chế tạo một thân tàu bằng titan đa hình dài 2 kilômét như chiếc này là điều không khả thi. Họ sử dụng các tiểu hành tinh vì về cơ bản chúng là “miễn phí”, và trong không gian thì hình dạng gần như không quan trọng.

 

Mặc dù kiểu thiết kế này là phổ biến và hoàn toàn khả thi, nhưng đối với câu chuyện về Oumuamua, chúng tôi không thấy có ý nghĩa gì trong những gì họ đang nói, bởi vì ngoài kia không chỉ có một con tàu. Có hàng ngàn con tàu đang di chuyển trong các tuyến giao thông liên hành tinh và liên sao.

 

Như tôi đã nói trước đây, việc mô tả hoặc đặt câu hỏi Oumuamua là gì cũng giống như việc ai đó nói với bạn hoặc hỏi bạn rằng liệu trên đường phố bạn có nhìn thấy một vật thể kim loại “lạ” có cửa hai bên và di chuyển trên một đế bốn bánh hay không.

 

Có quá nhiều tàu và xe đến mức không thể xác định được chính xác chiếc nào đã bị gắn cái tên Oumuamua đó, hay bất kể nó được viết như thế nào. Vì vậy, đối với chúng tôi, đó chỉ là một lời dối trá khác của NASA.

 

Họ chỉ nhìn thấy một con tàu dài khoảng 100 mét (một kích thước khá nhỏ) rồi phớt lờ 357.000 con tàu khác đi ngang qua khu vực đó mỗi ngày sao? Toàn bộ câu chuyện này chỉ nhằm khiến con người nghĩ rằng NASA có khả năng phát hiện bất cứ thứ gì đi qua Hệ Mặt Trời.

 

Ngoài ra còn một vấn đề khác ở đây. Nhiều con tàu không di chuyển trong một mật độ có thể quan sát được từ thực tại 3D, điều này càng làm mọi thứ trở nên phức tạp hơn.

 

Gosia: Theo lý thuyết thì không có chiếc nào đáng lẽ phải nhìn thấy được cả. Nếu chúng được cho là đang ở trong 5D, đúng không?

 

Robert: Nhưng tôi hiểu rằng khi đi vào khí quyển, bên dưới các vành đai Van Allen, thì tình hình sẽ thay đổi.

 

Swaruu (9): Đúng vậy, bạn có thể nhìn thấy nhiều chiếc, bởi vì phần có thể nhìn thấy từ 3D là phần phổ điện từ mà con tàu phát ra (bao gồm cả phổ ánh sáng khả kiến), chứ không phải toàn bộ con tàu.

 

Một phần cũng vì lý do này mà bạn không thể nhận diện được nhiều con tàu giống như những chiếc mà tôi đã gửi ở đây. Và vấn đề này cũng áp dụng tương tự đối với các hành tinh và các ngôi sao ở xa.

 

Những gì họ nhìn thấy chỉ là phần 3D của những gì đang tồn tại bên ngoài, chứ không phải toàn bộ những gì tồn tại bên ngoài. Hoặc họ chỉ nhìn thấy các thành phần 3D của những vật thể thuộc các mật độ khác, vì một mật độ cao hơn như 5D vẫn bao gồm khoảng 60% của 3D.

 

Tôi kết thúc phần nói về các động cơ đẩy trọng lực tại đây.

 

Phần tiếp theo chúng ta sẽ nói về: động cơ đẩy bằng plasma điện từ năng lượng cao.

 

 

 

 

Link gốc của bài viết

 

https://www.youtube.com/watch?v=9914QYRENHI

 

https://swaruu.org/transcripts/stellar-navigation-2-swaruu-part-3-extraterrestrial-ship-technology-taygeta-pleiades

 

 

Nếu bạn muốn hiểu sâu hơn về các khái niệm trong cuộc trò chuyện này, bạn có thể đọc thêm các bài sau:

 

- Năng Lượng Tự Do (Điểm Không): Cơ Chế Của Sự Biểu Hiện

- Mật độ

- Điều Hướng Sao 1 (Du Hành Thời Gian Ngoài Hành Tinh, Bản Đồ Sao và nhiều hơn nữa)

- Điều hướng sao: Hỏi đáp

- Điều hướng sao 2 (Phần 2)

- Điều hướng sao 2 (Phần 3)

- Điều hướng sao 2 (Phần 4)

- Điều hướng sao 2 (Phần 5): Chế độ dịch chuyển tức thời

- Di chuyển qua Ether - Điều hướng sao 2 (PHẦN 6)

- Bản đồ tần số - Vùng không gian không xác định (Điều hướng sao phần 7

- VÒNG TRÒN CÂY TRỒNG BÍ ẨN

 

 

 

Theo dõi trên Facebook

 

https://www.facebook.com/Go-With-The-Earth-110516891516479/

 

Xem toàn bộ thư viện bài viết

 

https://gowiththeearth.blogspot.com/2021/10/tat-ca-sach-co-tai-blogs.html



Đăng nhận xét