Swaruu Transcripts 013
Năng Lượng Tự Do (Điểm Không): Cơ Chế Của Sự Biểu Hiện - Swaruu de Erra (Taygeta – Pleiades)
16-11-2018
Swaruu
(9):
Sóng đứng là một mô thức dao động năng lượng tồn tại bên trong một môi trường
nhất định. Tần số dao động của nguồn phát sinh ra nó khiến các sóng đã được
phát ra trước đó, rồi bị phản xạ ngược trở lại chính nguồn, giao thoa với các
sóng đi trực tiếp từ nguồn phát. Sự giao thoa này diễn ra theo cách tạo ra những
điểm cụ thể trong môi trường trông như đứng yên, và từ đó có tên gọi là “sóng đứng”.
Mô thức dao động
cần thiết để tạo ra sóng đứng trong một môi trường đòi hỏi những tần số rất đặc
thù. Những tần số này được gọi là “tần số điều hòa”, hay “bội điều hòa (sóng
hài) của một tần số”. Chúng là những điểm tập trung năng lượng ở trạng thái cân
bằng hoàn hảo trong môi trường. Bất kỳ tần số nào không mang tính điều hòa, dù
nằm ở sóng phát ra (tới) hay sóng phản xạ, đều sẽ gây nhiễu cho mô thức sóng đứng,
tạo ra một tần số hỗn loạn và bất quy tắc làm tan rã nó, khiến sóng bị sụp đổ.
Chỉ có một loại
“chất” duy nhất, và nó tồn tại dưới dạng sóng lan tỏa khắp vũ trụ. Không gian
là một môi trường liên tục, đan xen của loại sóng này, và được định nghĩa là
năng lượng tiềm năng. Vật chất được hình thành trong các sóng hình cầu–xuyến
(spherical–toroidal) bên trong không gian đan xen đó, tuân theo những mô thức
toán học có thể dự đoán và rất cụ thể, được gọi là hình học thiêng. Các dạng
hình cầu–xuyến chính là những điểm tập trung năng lượng của sóng đứng, còn gọi
là các nút. Vật chất được tạo nên từ sự tập trung của các sóng đứng hình cầu–xuyến
này để hình thành nên những điểm, hay nút đó; vì vậy toàn bộ vật chất đều được
kết nối với nhau. Những sóng này rung động và tương tác lẫn nhau bên trong toàn
bộ môi trường năng lượng tiềm năng đan xen và liên kết.
Những mô thức toán
học có thể dự đoán, được gọi là hình học thiêng, chính là thứ quyết định sự tập
trung và vị trí của các nút hay sóng đứng, và từ đó hình thành vật chất. Những
mô thức toán học dưới dạng hình học thiêng này được áp đặt trực tiếp bởi điểm
chú ý của một ý thức, và được ứng dụng lên môi trường nơi các sóng lan truyền
(không gian) như một sự tập trung năng lượng đến từ một môi trường khác ở tầng
cao hơn (ý thức). Đây chính là nguồn phát của làn sóng lan tỏa khắp môi trường
năng lượng tiềm năng trong toàn vũ trụ, và đồng thời cũng là thứ tạo hình cho
nó. Môi trường này, hay năng lượng tiềm năng, chính là ether.
Những mô thức
hình học thiêng tạo ra sóng đứng và từ đó sinh ra vật chất bắt nguồn từ một
bình diện cao hơn, và bình diện này lại được hình thành từ một bình diện còn
cao hơn nữa, cứ tiếp diễn như vậy cho đến khi tạo thành Toàn Thể, hay Nguồn.
Hình học thiêng của mỗi bình diện mang tính tiến triển và ngày càng phức tạp
theo cấp số nhân, vì nó bao gồm toàn bộ thông tin cần thiết để hình thành tất cả
các bình diện thấp hơn. Những làn sóng tạo nên một thực thể có ý thức rung động
bên trong ma trận năng lượng tiềm năng đan xen và liên kết này, được gọi là
ether. Tâm trí của bạn, các giác quan, suy nghĩ, cảm xúc và trạng thái cảm xúc
của bạn chính là những làn sóng đó, và chúng quyết định tần số của sự phát xạ.
Những làn sóng
này - cùng với những thay đổi và biến thiên trong tần số phát xạ - luôn luôn
giao tiếp với tất cả các làn sóng khác. Chuyển động và tần số dao động của
chúng trong môi trường được tạo ra bởi điểm chú ý của thực thể có ý thức, và sẽ
hình thành nên phần không gian mà người đó sẽ nhìn thấy như “thế giới bên
ngoài” của mình. Bất cứ điều gì nhận được sự chú ý và tập trung sáng tạo của một
ý thức đều sẽ thành hình.
Nếu có nhiều điểm
phát năng lượng - tức là nhiều thực thể có ý thức - cùng chia sẻ một điểm hay một
trọng tâm chú ý giống nhau, dù là một thứ đã tồn tại hay một thứ đang trong
giai đoạn hình thành ở mức ý tưởng, thì sự phát xạ sóng của họ sẽ tạo ra giao
thoa mang tính xây dựng, gia cường các điểm nút của sóng đứng trong “nồi súp
năng lượng” gọi là ether, từ đó đẩy nhanh quá trình hình thành vật chất mới
thông qua sự tích lũy năng lượng mang cùng một mô thức chung.
Ngược lại, nếu
nhiều điểm phát năng lượng có cùng một trọng tâm chú ý nhưng lại mang những ý định
hoặc cảm xúc đối nghịch nhau, thì sẽ tạo ra giao thoa mang tính phá hủy. Điều
này áp dụng cho cả việc tạo ra vật chất lẫn các tình huống hay sự kiện - vốn
không gì khác hơn là một chuỗi các vị trí của vật chất được “làm cho sống động”
bởi sự chú ý của một hay nhiều ý thức. Chuyển động của các sự kiện, hay thời
gian, thực chất chỉ là một tần số được phát ra từ một ý thức trong trường
ether.
Điểm chú ý, hay
điểm tập trung của một thực thể có ý thức, là kết quả của sự giao tiếp giữa tất
cả các làn sóng trong môi trường đó, tức ether. Chúng có thể xuất phát từ chính
ý thức đó dưới dạng phản xạ hay dội ngược lại, hoặc cũng có thể đến từ một hay
nhiều thực thể khác có ý thức, bên trong hay bên ngoài cùng một bình diện tồn tại.
Chúng sẽ tạo thành những mô thức tập trung năng lượng phức tạp, hay các mô thức
nút sóng đứng, dưới dạng giao thoa xây dựng hoặc giao thoa phá hủy. Chính những
mô thức năng lượng này là thứ mà các thực thể có ý thức trong cùng môi trường
chia sẻ sẽ cảm nhận như thế giới bên ngoài.
Sự tương tác giữa
các làn sóng trong môi trường làm thay đổi tần số của nó và đồng thời tạo ra
các làn sóng mới. Vì vậy, trọng tâm hay điểm chú ý của một ý thức - cá nhân hay
tập thể - chính là trung tâm hút, nơi một sự tập trung năng lượng hay một nút của
sóng đứng được hình thành.
Sự tập trung
năng lượng hay nút sóng đứng này trong môi trường gọi là ether cũng chính là một
hạt hạ nguyên tử. Dựa theo các mô thức được thiết lập bởi điểm chú ý của ý thức
phát xạ, nó sẽ dần dần hình thành nên các cấu trúc năng lượng ngày càng phức tạp
hơn: trước tiên là các hạt hạ nguyên tử, rồi đến các nguyên tử tạo thành các
phân tử phức tạp, tiếp đó là các nguyên tố, chất liệu và cấu trúc của vật chất,
bao gồm cả DNA. Tất cả đều tuân theo các mô thức toán học của hình học thiêng
dưới dạng các bội điều hòa (sóng hài) của tần số, được áp đặt bởi động lực
tương tác giữa các làn sóng và tần số của chúng trong môi trường ether, phát ra
từ các điểm chú ý hay trọng tâm của ý thức.
Toàn bộ vật chất,
cũng như chuỗi biểu hiện được làm cho sống động bởi một ý thức, đều có nền tảng
hay cấu trúc năng lượng nguyên thủy là hình học thiêng. Và điều này là vì đó là
cách duy nhất để vật chất có thể hình thành như một bội
điều hòa (sóng hài) của một tần số toán học hoàn hảo, cần thiết để duy trì
các nút - hay các điểm năng lượng - của sóng đứng trong môi trường năng lượng
tiềm năng gọi là ether. Bất kỳ tần số nào nằm ngoài bội điều hòa (sóng hài) của hình học thiêng đều sẽ làm sụp đổ sóng đứng
đó, khiến nút bị tan rã, và cùng với nó là vật chất.
Mọi thứ mà một
thực thể có ý thức sống, trải nghiệm, cảm nhận, suy nghĩ, nói ra và làm đều được
toàn bộ môi trường năng lượng tiềm năng đan xen và liên kết gọi là ether - thứ
tạo nên vũ trụ - “trải nghiệm” cùng. Suy nghĩ của bạn tạo ra sự thay đổi về tần
số, chuyển động và biên độ trong các làn sóng bạn phát ra; cảm xúc của bạn tạo
ra sự thay đổi trong bội điều hòa (sóng hài) của tần số bạn phát, và từ đó làm
thay đổi cấu trúc toán học–năng lượng của bạn.
Tần số của làn
sóng phát ra từ một thực thể có ý thức là một hình thức giao tiếp với trường
hay môi trường mà nó đang ở trong đó. Thứ mà nó phát ra trong làn sóng đi ra sẽ
quyết định loại giao tiếp mà nó nhận được trong làn sóng đi vào. Mỗi cá nhân có
ý thức tự xác định và kiểm soát bản chất của sự giao tiếp mà họ truyền đi và nhận
lại, thông qua động lực cá nhân của dòng chảy thông tin, hướng về điểm chú ý, tần
số suy nghĩ, ý tưởng và cảm xúc của mình.
Toàn bộ thông
tin trong môi trường đan xen và liên kết đều được chia sẻ và ảnh hưởng đến mọi
phần của nó, trong toàn bộ môi trường, thông qua các tần số sóng năng lượng
giao thoa với nhau, luôn tuân theo các cấu trúc toán học của hình học thiêng.
Đây chính là định
nghĩa của Toàn Thể: trường hợp nhất, Nguồn, hay sự kết hợp mang tính hợp tác của
tất cả các ý thức như một tổng thể. Đó chính là vũ trụ. Đồng thời, đó cũng là định
nghĩa của từng sinh thể nhỏ bé có ý thức. Một thực thể có ý thức là một nút hay
một điểm năng lượng của sóng đứng, và đồng thời vừa là một mảnh toàn ảnh của
Toàn Thể, vừa chính là Toàn Thể. Mỗi thực thể có ý thức chính là vũ trụ.
Toán học của các
hình xuyến chứa đựng toàn bộ các công thức điều khiển cả cơ chế của sự biểu hiện
lẫn các tần số cụ thể của nó, hay các bội điều hòa (sóng hài) của tần số, thứ
kiểm soát mọi thứ. Toán học và dòng chảy năng lượng tạo nên cấu trúc dòng chảy
hình xuyến là nền tảng cho sự hình thành vật chất, đồng thời cũng là chìa khóa
của năng lượng Điểm Không. Nó cũng có liên hệ với dãy Fibonacci. Ở đây không cần
đi sâu vào chi tiết vì tất cả những điều này đều có thể dễ dàng tìm thấy trên mạng.
Toàn bộ toán học
của dòng chảy hình xuyến dựa trên một nguyên lý then chốt: mối quan hệ và chuỗi
giữa các con số 1, 2, 4, 8, 7, 5 và 3, 6, 9. Mối quan hệ giữa các con số này
như sau: mọi sự hình thành vật chất - ví dụ rõ ràng nhất là sự phân chia tế bào
- đều tuân theo mô thức nhân đôi: 1×2 = 2, 2×2 = 4, 4×2 = 8.
Trong mô thức
hình học thiêng làm nền tảng cho hình xuyến này, các con số được nhân đôi như
sau: 1×2 = 2, 2×2 = 4, 4×2 = 8, 8×2 = 16, trong đó 1 + 6 = 7; tiếp theo 7×2 =
14 và 1 + 4 = 5; 5×2 = 10 và 1 + 0 = 1; rồi lại quay về cùng một mô thức dòng
chảy toán học–năng lượng: 1, 2, 4, 8, 7, 5. Đây chính là mô thức cơ bản hay “động
cơ” của một hình xuyến trong biểu hiện cơ bản nhất của nó.
Các con số 1, 2,
4, 8, 7, 5 đại diện cho mặt vật chất, còn 3, 6, 9 đại diện cho mặt ether, vì
chúng tuân theo một chuỗi liên kết khác, đó là: 1 + 2 = (3), 2 + 4 = (6), 4 + 8
= 12 và 1 + 2 = (3); 8 + 7 = 15 và 1 + 5 = (6); 7 + 5 = 12 và 1 + 2 = 3; 5 + 1
= 6.
Như bạn thấy, kết
quả luôn luôn luân phiên giữa 3 và 6, và lý do là:
3×2 = (6), 6×2 =
12 và 1 + 2 = (3), 12×2 = 24 và 2 + 4 = (6), 24×2 = 48 và 4 + 8 = 12 và 1 + 2 =
(3), 48×2 = 96 và 9 + 6 = 15 và 1 + 5 = (6), và cứ thế đến vô hạn, luôn luôn
luân phiên giữa kết quả 3 và 6.
Hiệu ứng luân
phiên này cũng tương ứng với sự đảo cực của phân cực điện từ trong động lực của
dòng chảy năng lượng hình xuyến. Riêng với con số 9, nó là kết quả của tổng giữa
3 và 6 hoặc 6 và 3, và nó tuân theo một chuỗi riêng vừa tách biệt vừa hiện diện
khắp nơi:
9×2 = 18 và 1 +
8 = (9), 18×2 = 36 và 3 + 6 = (9), 36×2 = 72 và 7 + 2 = (9), 72×2 = 144 và 1 +
4 + 4 = (9), và cứ thế đến vô hạn, luôn cho ra cùng một kết quả là (9).
9×1 = (9), 9×2 =
18 và 1 + 8 = (9), 9×3 = 27 và 2 + 7 = (9), 9×4 = 36 và 3 + 6 = (9), 9×5 = 45
và 4 + 5 = (9). Luôn luôn là cùng một kết quả (9).
(Lưu ý ở đây sự
xuất hiện của các con số 72 và 144, vốn thường được sử dụng trong các hội kín để
chỉ số lượng người được chọn hay đặc biệt, thường nhằm thực hiện một nhiệm vụ
theo cụm từ “cứu thế giới”. Cả 72 lẫn 144 - cũng như 144.000 - đều có tổng bằng
9, là con số tượng trưng cho Toàn Thể hay Nguồn, cho thấy nội dung huyền học rất
rõ ràng.)
Mối quan hệ giữa
3, 6 và 9 tạo thành một bộ ba, trong đó 3 và 6 là hai mặt đối nghịch, còn 9 là
sự kết hợp của cả hai thành một toàn thể. Lưu ý rằng tôi không nói đó là sự cân
bằng, vì nó không phải. Nó là tổng của cả hai như một toàn thể. Số 9 cũng tượng
trưng cho sự khai sáng, tức khả năng vượt lên trên tính nhị nguyên.
Tổng mối quan hệ
giữa các con số 1, 2, 4, 8, 7, 5 cũng luôn cho ra (9), ví dụ cơ bản và quan trọng
nhất là: 1 + 2 + 4 + 8 + 7 + 5 = 27, và 2 + 7 = (9).
Trong hình ảnh
này (thể hiện dòng chảy năng lượng của các con số 1, 2, 4, 8, 7, 5 và 3, 6, 9),
chúng ta có thể thấy cách dòng chảy năng lượng bên trong hình xuyến gây ra sự
khử phân cực ở phía ether giữa hai cực 3 và 6, mỗi khi dòng năng lượng chuyển từ
bên này sang bên kia theo chuỗi 1, 2, 4, 8, 7, 5, và từ đó làm đổi cực tính. Một
cực được chi phối bởi 1, 2, 4, còn cực kia bởi 8, 7, 5.
Tại điểm trung
tâm, hay điểm 0, có sự giải phóng năng lượng khử phân cực. Từ đó mới có tên gọi
“năng lượng Điểm Không”. Trung tâm màu vàng chính là điểm không.
Toàn bộ sự sáng
tạo vật chất đều dựa trên nguyên lý toán học của hình học thiêng này. Từ một hạt
hạ nguyên tử cho đến cả một thiên hà, tất cả đều được hình thành theo nguyên lý
đó.
Sự phân chia tế
bào cũng tuân theo cùng mô thức toán học: 1×2 = 2, 2×2 = 4, 4×2 = 8.
Nhân đây, tôi
cũng xin giải thích vì sao thuyết Trái Đất phẳng không có ý nghĩa. Nếu tuyệt đối
mọi thứ được gọi là vật chất đều dựa trên toán học của hình xuyến, thì Trái Đất
được hình thành như thế nào nếu nó phẳng? Tại sao nó lại phải khác? Cũng như mọi
thứ khác, Trái Đất là một hình xuyến, giống như các hành tinh khác, và có các lỗ
mở ở hai cực như những hình xuyến khác. Tuy nhiên, nó không hoàn toàn rỗng, mà
có những khoang rỗng nội tại rất lớn, chủ yếu nằm dọc theo dòng chảy năng lượng
ban đầu của nó.
Trái Đất đơn giản
là không thể phẳng. Tôi xem ý tưởng đó như một sự áp đặt của chính phủ nhằm
thao túng, để tạo ra sự hoang mang cho những người bắt đầu đặt câu hỏi về những
gì trật tự hiện tại đang áp đặt. Tôi cũng nhìn nhận nó như một chiến lược nhằm
làm mất uy tín sự tồn tại của người ngoài Trái Đất, bởi vì nếu Trái Đất là phẳng
thì sẽ không có “các hành tinh khác”, và khi đó người ta chỉ còn có thể gọi hiện
tượng UFO là “liên chiều không gian”. Toàn bộ vật chất, từ lớn đến nhỏ, đều được
hình thành dựa trên động lực và hình học toán học của hình xuyến. Do đó, học
thuyết này hoàn toàn vô nghĩa.
Trong hình ảnh
(1, 2, 4, 8, 7, 5 và 3, 6, 9), điểm giải phóng năng lượng chính là trung tâm của
điểm không, được tạo ra bởi sự khử phân cực giữa trường 1, 2, 4, 8, 7, 5 và trường
3 và 6. Mọi thứ đều củng cố cho điểm cao nhất hay (9), vốn là nút của sóng đứng
đã được tạo ra bởi động lực năng lượng phía dưới, và nó kết nối với các hình
xuyến khác, hay các “động cơ năng lượng” khác, để tạo ra các cấu trúc phức tạp
hơn, tuân theo tần số điều hòa của hình học thiêng, là sản phẩm của điểm chú ý
của ý thức. Các hình xuyến được cộng dồn lại, hình thành nên những cấu trúc
ngày càng phức tạp hơn, chẳng hạn như cái gọi là “hoa sự sống”, luôn luôn theo
cùng một mô thức.
Các chu kỳ mà
năng lượng lưu chuyển theo mô thức 1, 2, 4, 8, 7, 5 chính là tần số của nó, và
được đo bằng Hz. Giá trị trung bình tính bằng Hz của số vòng quay trong các hệ
hình xuyến tạo nên vật chất ở bất kỳ cấp độ nào, khi nói đến một hành tinh cụ
thể, cũng được gọi là Cộng hưởng Schumann, và nó là đặc trưng riêng cho từng
thiên thể hay từng vị trí trong vũ trụ.
Tốc độ hay tần số
(tính bằng Hz) của các chu kỳ của vật chất chính là thứ định nghĩa nên một mật
độ tồn tại hay một bình diện hiện hữu. Tần số năng lượng càng cao (Hz càng lớn)
thì mật độ hiện hữu càng cao, và như tôi đã mô tả ở trên, điều này gắn liền trực
tiếp và không thể tách rời với ý thức tạo ra nó.
Mặc dù người ta
có thể nghĩ rằng điều này chỉ xảy ra ở mức tập thể, đặc biệt là xét trên bình
diện hành tinh, nhưng thực tế không phải vậy. Nó xảy ra vừa ở mức tập thể - như
tổng trung bình của tất cả các ý thức hiện diện - vừa ở mức cá nhân, bởi vì mỗi
thực thể có ý thức, thông qua điểm chú ý hay trọng tâm riêng của mình, đều lọc,
tạo ra và chặn tất cả các tần số không nằm trong phạm vi chú ý của nó, từ đó tạo
ra một thực tại vũ trụ song song mang tính cá nhân và riêng biệt.
Toàn bộ thông
tin và các nguyên lý của năng lượng Điểm Không, hay năng lượng tự do, đã có mặt
trên Trái Đất từ thời Nikola Tesla. Thứ duy nhất ngăn cản việc sử dụng tự do
nguồn năng lượng này cho toàn bộ nhân loại chính là sự hiện diện của những thực
thể rất tiêu cực, những kẻ muốn tiếp tục khai thác và trục lợi. Để dân số có thể
tiếp cận năng lượng tự do, cần phải loại bỏ những thực thể tiêu cực, tập đoàn
Cabal doanh nghiệp và Illuminati ra khỏi quyền kiểm soát hành tinh, vì họ đã
đơn giản là độc quyền công nghệ và thủ tiêu các nhà khoa học độc lập cùng công
trình của họ ngay khi những người này vừa xuất hiện. Điều này không mới đối với
bạn, và những gì tôi mô tả ở trên chỉ là cách giải thích tổng quát về cơ chế hoạt
động của năng lượng Điểm Không.
Tóm lại: một cấu
trúc năng lượng với hình học toán học chính xác sẽ gây ra sự khử phân cực năng
lượng từ phía ether, giải phóng một lượng lớn năng lượng tự do. Có một điện
tích ở một phía được cảm nhận là vật chất, và một điện tích khác ở phía ether.
Khi các cực và điện tích của chúng nằm ở hai cực đối nghịch trong một hình học
cụ thể, sự phóng điện sẽ xảy ra. Ngược lại, nếu không có điểm khử phân cực, thì
sẽ không có gì được tạo ra.
Điều này giống
như trường hợp một con chim đậu trên một sợi dây điện cao thế duy nhất: vì
không có điểm khử phân cực nên chẳng có gì xảy ra với con chim. Nhưng nếu nó chạm
được vào sợi dây còn lại hoặc chạm đất, thì sự phóng điện sẽ xảy ra.
Họ không nhận thức
hoặc không chấp nhận năng lượng Điểm Không vì mọi thứ họ nhận thức và thao túng
đều chỉ nằm ở một phía hay một cực duy nhất.
Khi công nghệ
này được ứng dụng, có thể xây dựng những lò phản ứng siêu hiệu quả, cung cấp
nguồn năng lượng dồi dào không bao giờ cạn. Nó có thể truyền tần số khử phân cực
đặc thù của phía ether, hay 3, 6, 9, đi những khoảng cách rất lớn mà không cần
dây dẫn. Một thiết bị được trang bị bộ thu ở đúng tần số đã được thiết kế sẵn sẽ
tạo ra sự khử phân cực nội tại bên trong nó, từ đó sinh ra năng lượng tự do được
truyền không dây, hoàn toàn sạch, có thể được sử dụng cho các chức năng của thiết
bị một cách không giới hạn. Và vì sự truyền tải năng lượng cao này đến từ phía
phi-vật-chất, nên nó không gây nguy hiểm cho sự sống.
Trong hầu như tất
cả các nền văn minh tiên tiến, loại hình truyền năng lượng này đều được sử dụng.
Các hệ thống như chiếu sáng, các chức năng nội tại của tòa nhà, công nghiệp và
phương tiện hành tinh đều vận hành bằng công nghệ năng lượng vô hạn này. Trong
nền văn minh của tôi, gần như mọi thứ đều được thực hiện bằng đường không, với
công nghệ triệt tiêu và thao túng trọng lực, điều mà tôi sẽ nói sau. Tuy vậy,
chúng tôi vẫn sử dụng các phương tiện có bánh xe cho quãng đường ngắn, bởi vì
chúng tôi không có mạng lưới đường bộ, mà chỉ có các hệ thống tàu Maglev hay
tàu đệm từ không bánh xe. Các phương tiện nhỏ có bánh xe cho quãng đường ngắn sử
dụng trục từ tính để giảm thiểu ma sát và vận hành bằng nguồn điện vô hạn được
thu từ không khí như đã mô tả ở trên.
Trên Trái Đất,
người ta được dạy rằng dầu mỏ là một nhiên liệu hóa thạch không tái tạo, có nguồn
gốc hữu cơ. Đây là một lời nói dối lớn. Dầu mỏ là một khoáng chất được tạo ra bởi
các tương tác hóa học–nhiệt–cơ học phức tạp bên trong lớp vỏ hành tinh. Nó có
khả năng tự tái tạo. Một giếng dầu có thể cạn kiệt tạm thời, nhưng nếu được để
yên trong một khoảng thời gian - tùy thuộc vào nhiều yếu tố, nhưng hiếm khi vượt
quá vài năm - thì nó sẽ lại đầy. Dầu mỏ không hề khan hiếm. Đây chỉ là một trò
lừa khác để bóc lột dân chúng.
Năng lượng
nguyên tử thì cực kỳ độc hại. Tính ion hóa của nó ảnh hưởng đến nhiều bình diện
hiện hữu, chưa nói đến bom hạt nhân. Các tác hại của nó đã quá rõ ràng, và rủi
ro cùng chi phí đơn giản là không thể chấp nhận được. Chúng không an toàn, và tất
cả các nhà máy, kể cả khi vận hành hoàn hảo, đều phát thải một lượng lớn các đồng
vị phóng xạ cực kỳ nguy hiểm. Chúng tiêu thụ một lượng nước khổng lồ và chi phí
thì vô cùng cao.
Chưa dừng lại ở
đó, ít nhất là phần lớn các nhà máy điện hạt nhân còn tiêu thụ nhiều năng lượng
hơn - cả điện năng lẫn tổng năng lượng - so với lượng mà chúng tạo ra, theo chu
kỳ luân phiên theo mùa. Lý do tồn tại của các nhà máy hạt nhân, bất chấp mọi bất
lợi này, không phải là để sản xuất điện, mà là để tạo ra hiệu ứng ion hóa. Mục
đích của điều đó là cải tạo hành tinh cho phù hợp với nhu cầu của các thực thể
tiêu cực. Bức xạ ion hóa ảnh hưởng đến các chu kỳ Hz của vật chất, làm hạ tần số
của nó, từ đó làm giảm tần số tổng thể của hành tinh, duy trì nó trong 3D. Việc
sản xuất điện chỉ là cái cớ để lắp đặt các nhà máy cải tạo hành tinh.
Các tai nạn tại
nhà máy điện hạt nhân Three Mile Island, Chernobyl và Fukushima, cùng nhiều nơi
khác, đã được gây ra có chủ đích nhằm phát tán các đồng vị phóng xạ để tác động
đến Trái Đất và dân cư của nó. Các nhà máy hạt nhân được đặt ở những vị trí chiến
lược khắp thế giới, trên các đường Ley và các điểm năng lượng.
Các nhà máy
nguyên tử cũng được sử dụng để sản xuất vật liệu hạt nhân cho công nghiệp, đặc
biệt là vũ khí - không chỉ để chế tạo bom. Phần lớn bom được sản xuất ngày nay
là loại chiến thuật cỡ nhỏ, chứ không phải loại chiến lược như tên lửa đạn đạo
xuyên lục địa (ICBM). Vật liệu hạt nhân cũng được dùng để sản xuất đạn động
năng.
Họ (Cabal hay
các thế lực tiêu cực) cũng nói đến các dạng năng lượng khác, như sự dung hợp giữa
vật chất và phản vật chất. Có nhắc đến nguyên tố Uup-115, được biết đến với tên
Muscovium hay Ununpentium, như là “nhiên liệu của UFO”. Đúng là Cabal và các thế
lực tiêu cực có thí nghiệm với chất này, nhưng hầu hết - nếu không muốn nói là
tất cả - các chủng tộc sao tiên tiến đều không sử dụng nó. Thứ mà họ sử dụng là
các lò phản ứng tinh thể thạch anh, vốn không gì khác hơn là những cỗ máy khử
phân cực ether khổng lồ. Chúng chính là các lò phản ứng năng lượng Điểm Không.
Các lò phản ứng này tạo ra lượng năng lượng dồi dào vượt xa mọi nhu cầu tiêu thụ,
không bao giờ cần sạc lại, đồng thời hoàn toàn an toàn và sạch.
Tôi có thể mô tả
các lò phản ứng này như một quả cầu titan lớn, bên trong chứa các tế bào nhiệt–điện
siêu hiệu quả, với nhiều hình xuyến đồng tâm lồng vào nhau, được tạo thành từ
khoảng hai triệu vi tinh thể thạch anh lơ lửng bên trong một trường trọng lực
do máy tính điều khiển, trong môi trường chân không. Những vi tinh thể thạch
anh này có hình dạng tứ diện hoàn hảo hoặc merkaba, mang tính hình xuyến mạnh về
mặt năng lượng và duy trì một tần số rung động ổn định. Máy tính có thể điều
khiển vị trí riêng lẻ của từng tinh thể và thao túng chúng bằng các tần số điều
hòa cụ thể, được xác định bởi vị trí hình học của chúng trong hình xuyến của lò
phản ứng. Những tần số đặc thù này cũng có thể được xem như là âm nhạc.
Các hình xuyến đồng
tâm, xếp chồng lên nhau như các lớp hành tây, tạo ra một trường từ khổng lồ, tối
đa hóa hiệu ứng khử phân cực ether. Các hình xuyến tinh thể thạch anh này thực
sự phát sáng như những mặt trời tí hon, tạo ra toàn bộ năng lượng mà một con
tàu lớn có thể cần. Những “mặt trời” này hoàn toàn ổn định, và năng lượng của
chúng có thể thay đổi bằng cách điều chỉnh các bội điều hòa (sóng hài) của hình
học điều khiển chúng, thông qua việc thao túng trường trọng lực mà máy tính kiểm
soát. Ngay cả những lò phản ứng năng lượng Điểm Không tiên tiến này cũng vẫn sử
dụng chính xác cùng một nguyên lý - mối quan hệ và sự tương tác giữa các con số
1, 2, 4, 8, 7, 5 và 3, 6, 9 - mà tôi đã mô tả ở trên, chỉ là ở mức hoàn thiện
hơn.
Trong nhiều
trang Thời Đại Mới và các nguồn khác, người ta nói rằng các con tàu Pleiadian vận
hành bằng năng lượng từ thạch anh. Như bạn có thể thấy từ mô tả trước đó của
tôi, điều này đúng một phần.
Thang Kardashev:
Thang đo của
Nikolai Kardashev (1964) là một hệ thống hay phương pháp để đo mức độ tiến hóa
của một nền văn minh, chỉ dựa trên khả năng khai thác năng lượng xung quanh họ.
Theo thang đo này, Trái Đất là một nền văn minh loại 0, với giá trị 0,73.
Thang đo này gồm
3 cấp độ:
Nền văn minh loại
I: có khả năng khai thác toàn bộ năng lượng sẵn có trên hành tinh của mình.
Nền văn minh loại
II: có khả năng khai thác và sử dụng toàn bộ năng lượng của ngôi sao của mình.
Nền văn minh loại
III: có khả năng khai thác toàn bộ năng lượng của cả một thiên hà.
Nhận xét của tôi
là: thang đo này không có ý nghĩa. Nó lại là một ví dụ khác của chủ nghĩa duy vật
giản lược và tất định. Nó chỉ phản ánh tư duy đế quốc của các nhà khoa học loài
người. Bạn không cần phải làm chủ toàn bộ năng lượng của một hành tinh, càng không
cần đến năng lượng của Mặt Trời hay cả một thiên hà. Nền văn minh của tôi, cũng
như rất nhiều nền văn minh khác, chỉ sử dụng lượng năng lượng cần thiết cho sự
vận hành và phát triển của mình, không theo cách xâm lấn, và hầu hết năng lượng
(với rất ít ngoại lệ) đều dựa trên sự khử phân cực Điểm Không. Do đó, phần lớn
các nền văn minh tích cực sẽ nằm ngoài thang đo này. Chúng tôi không cần phải
khai thác toàn bộ năng lượng của hành tinh, càng không cần đến Mặt Trời hay
thiên hà của mình. Hơn nữa, sự phát triển tâm linh và đạo đức khiến các nền văn
minh tích cực tách xa mọi nhu cầu xâm lấn mang tính đế quốc.
Về siêu cấu trúc
được phát hiện quanh ngôi sao KIC 8462852: Truyền thông nói rằng ngôi sao này
có một cấu trúc khổng lồ bao quanh, với hình dạng hình học nhất quán đến mức chỉ
có thể là sản phẩm nhân tạo của một nền văn minh cực kỳ tiên tiến, rất có thể
nhằm khai thác năng lượng của ngôi sao đó. Thực tế, thứ bao quanh ngôi sao KIC
8462852 là một lượng đá khổng lồ, từng là một hành tinh đá lớn trong quá khứ.
Chúng quay quanh ngôi sao đó ở khoảng cách rất gần, nhưng vẫn giữ được sự cân bằng.
Do ở quá gần, chúng nằm bên trong trường điện từ - hay từ quyển - của ngôi sao,
mà như tôi đã mô tả ở trên, tạo thành một hình xuyến năng lượng.
Vì các hình xuyến
tuân theo những mô thức toán học cụ thể và cấu trúc của chúng mang tính tự hoàn
chỉnh, nên điều đang xảy ra ở đây đơn giản chỉ là các khối đá đó đang đi theo,
hay thích nghi với, mô thức năng lượng–trọng lực của từ quyển ngôi sao đó. Đây
chỉ là một hiện tượng và một cấu trúc tự nhiên. Rất nhiều đá mà thôi! Và có rất
nhiều ngôi sao và hành tinh khác cũng thể hiện hiện tượng này, chứ không chỉ
riêng ngôi sao đó. Không có nền văn minh tiên tiến nào cần phải rút cạn hay
khai thác năng lượng của một ngôi sao theo cách đó, bởi vì họ đã có tất cả những
gì cần thiết thông qua sự khử phân cực ether, hay Điểm Không.
Toàn bộ công nghệ
năng lượng tự do đã có sẵn trên Trái Đất.
Nó chỉ cần được
giải phóng.
Swaruu de Erra
(9)
https://swaruu.org/transcripts/free-energy-zero-point-direct-message-from-pleiadian-taygetean-swaruu
Theo
dõi trên Facebook
https://www.facebook.com/Go-With-The-Earth-110516891516479/
DANH
SÁCH TẤT CẢ CÁC BÀI VIẾT CỦA TRANG
https://gowiththeearth.blogspot.com/2021/10/tat-ca-sach-co-tai-blogs.html