Swaruu Transcripts 021 - 🌌📐✨🎵🧭Điều Hướng Sao 1 (Du Hành Thời Gian Ngoài Hành Tinh, Bản Đồ Sao và nhiều hơn nữa) - Swaruu de Erra

Khám phá cách người Taygeta điều hướng phi thuyền bằng tần số Dz, du hành vượt ánh sáng, du hành thời gian và bản chất ý thức tạo nên vũ trụ.

 

Swaruu Transcripts 021


Điều Hướng Sao 1 (Du Hành Thời Gian Ngoài Hành Tinh, Bản Đồ Sao và nhiều hơn nữa) - Swaruu de Erra

 

03-02-2019




👉 Tóm tắt nội dung:   Bài viết giải thích cách nền văn minh Taygeta thực hiện điều hướng liên sao bằng “bản đồ tần số” thay vì bản đồ không gian ba chiều truyền thống. Theo Swaruu, toàn bộ vũ trụ là một Ma Trận tần số được tạo nên từ ý thức, nơi mỗi hành tinh, vật thể và vị trí đều có một “địa chỉ rung động” riêng dưới dạng tần số Dzi'izí (Dz). Phi thuyền trên ánh sáng không điều hướng bằng tọa độ vật lý mà bằng các bội điều hòa (sóng hài) tần số giống như âm nhạc, cho phép di chuyển xuyên không gian và cả thời gian.

 

Bài viết cũng đi sâu vào mối liên hệ giữa ý thức, ether, sóng dừng, hình học thiêng và cấu trúc năng lượng của vũ trụ, đồng thời giải thích vì sao mọi phi thuyền vượt ánh sáng thực chất đều là cỗ máy thời gian. Swaruu nhấn mạnh rằng công nghệ du hành liên sao không thể tách rời sự phát triển tâm linh và nhận thức cao cấp, bởi việc điều hướng bằng tần số đòi hỏi hiểu biết sâu sắc về bản chất của thực tại và ý thức.

 

 

---------

 

 

Lời mở đầu:

 

Swaruu (9): Không có vật chất, chỉ có tâm trí. Vật chất cứng chỉ là một ảo giác được tạo ra bởi sự biểu hiện của một ý định từ một ý thức sáng tạo. Bất kỳ hạt hạ nguyên tử nguyên thủy nào, mà sau đó sẽ dần hình thành nên những cấu trúc ngày càng phức tạp hơn, thực chất chỉ là một nút của sóng dừng phát sinh từ bội điều hòa (sóng hài) của một tần số. Bội điều hòa này được tạo ra bởi sự chú ý hoặc điểm tập trung chú ý của ý thức. Từ thứ nhỏ bé và đơn giản nhất cho tới thứ lớn lao và phức tạp nhất, mọi thứ đều là sản phẩm của một ý thức vĩ đại, mà khi phân mảnh theo dạng toàn ảnh, có thể đặt điểm chú ý của mình vào mọi thứ.

 

Không tồn tại thời gian, mọi thứ đều hiện hữu và mọi thứ đều xảy ra đồng thời. Chỉ có sự chuyển động của điểm chú ý trong ý thức mới khiến cái tĩnh trở nên có vẻ như đang chuyển động, tạo ra ảo giác rằng thời gian đang trôi qua. Cũng theo cách đó, không chỉ thời gian là ảo giác mà khoảng cách và sự tách biệt cũng là ảo giác. Không có “ở đây” và cũng không có “ở kia”. Chỉ có ý niệm rằng tồn tại một điểm chú ý riêng biệt mới tạo ra ảo giác về sự phân tách, và từ đó là ảo giác về khoảng cách.

 

Vật chất không tồn tại như bản chất thật sự của nó, nó chỉ là nhận thức do một ý thức tạo ra. Tính rắn chắc của nó chỉ là một ảo ảnh, và chỉ được cảm nhận như vậy từ một góc nhìn, một điểm chú ý, chứ không phải từ góc nhìn khác. Ở một tần số tâm trí nào đó thì thứ gì đó là rắn chắc, nhưng ở một tần số tâm trí khác thì không phải. Một tần số tâm trí chẳng là gì khác ngoài một cõi hiện hữu. Nó là một ý niệm, và ý niệm chính là tần số. Toàn bộ vũ trụ là một Ma Trận khổng lồ mang tính ảo ảnh, một ý niệm khổng lồ được tưởng tượng ra cả riêng lẻ lẫn tập thể bởi vô số hàng tỷ mảnh toàn ảnh của tổng thể, của ý thức tối thượng vĩ đại, ý thức tổng thể vĩ đại, cái được gọi là Nguồn. Vũ trụ là một ý niệm được tưởng tượng ra bởi Nguồn.

 

Một vật thể là một nút, hay một điểm, và mỗi điểm hoặc nút trong một tần số bên trong một trường năng lượng tiềm năng đều được duy trì bởi chính bội điều hòa (sóng hài) tần số của nó, và điều đó không là gì khác ngoài sự chú ý đang được đặt vào nơi đó hay điểm đó, từ một ý thức sáng tạo dù là cá nhân hay tập thể. Mặc dù thật ra không bao giờ tồn tại một ý thức hoàn toàn cá nhân, mà nó luôn là kết quả của tổng hòa nhiều ý thức khác.

 

Ngay cả cái mà chúng ta gọi là ý thức cá nhân, khái niệm “tôi”, khái niệm bản ngã của chúng ta, cũng được hình thành từ nhiều mảnh ý thức-chú ý của chính chúng ta và từ những ý niệm mà các ý thức khác có về chúng ta. Nó cũng là kết quả của các ý thức ở những cõi khác với chúng ta, vừa từ các cõi cao hơn nơi chúng ta chỉ là cái bóng của một thứ gì đó khác, một thứ phức tạp hơn được diễn giải bởi một cõi hiện hữu đơn giản hơn, đồng thời chúng ta cũng là kết quả của sự kết hợp các ý thức cá nhân từ các cõi thấp hơn. Chúng ta có thể diễn giải điều này theo hướng rằng chúng ta là tổng hòa của vô số ý thức nhỏ bé phát sinh từ nhận thức của các tế bào riêng lẻ trong cơ thể mình, bởi vì chúng ảnh hưởng tới cách chúng ta cảm nhận và cách chúng ta diễn giải cái mà chúng ta gọi là thế giới bên ngoài. Điều này xảy ra theo những cách vô cùng phức tạp, nhưng ví dụ đơn giản nhất là chúng ta cảm thấy ổn nếu cơ thể khỏe mạnh, còn nếu có một nhóm tế bào nào đó không ổn vì lý do nào đó thì chúng ta cũng sẽ không cảm thấy ổn. Đúng vậy, các tế bào ảnh hưởng tới nhận thức của chúng ta về thế giới bên ngoài, cái “bên ngoài” mang tính ảo ảnh đó.

 

Mỗi khi chúng ta có một sự tưởng tượng, một điều gì đó được hình dung trong tâm trí, đó là một sự phóng chiếu về tương lai bởi vì chính ý niệm tưởng tượng đó dẫn dắt chúng ta tới những gì chúng ta sẽ làm tiếp theo. Không có trí tưởng tượng thì sẽ không có tương lai. Trí tưởng tượng chính là việc tiếp cận các cõi hiện hữu cao cấp hơn, nơi mà điều chúng ta tưởng tượng đã tồn tại sẵn rồi, bất kể nó có vẻ phức tạp hay bất khả thi như thế nào lúc ban đầu.

 

Bạn không thể sống hoàn toàn trong hiện tại theo nghĩa tuyệt đối như nhiều bậc thầy tâm linh yêu cầu, bởi vì “hiện tại” mà ý thức chúng ta cảm nhận được luôn là kết quả của một điều gì đó đã thuộc về quá khứ. Thật sự sống trong hiện tại có nghĩa là suy nghĩ trong trạng thái alpha, tức là trạng thái sáng tạo của ý thức. Có được nhận thức tưởng tượng đầy đủ về một kế hoạch cho tương lai là điều quan trọng, nhưng điều còn quan trọng hơn là có thể sống trong trạng thái sáng tạo tưởng tượng đó, trong alpha, nhờ vậy mà thiết lập được ý thức của mình chỉ vận hành trước vài khoảnh khắc so với điều mà chúng ta đang trải nghiệm như hiện tại. Chúng ta cũng có thể định nghĩa việc sống trong trạng thái ý thức alpha là sống bằng trực giác.

 

Điều hướng Sao

 

Phần đầu tiên:

 

Mặc dù nhận thức của chúng ta về thực tại với tư cách những cá thể có thân xác vật chất mang tính ảo ảnh khiến chúng ta, thông qua trải nghiệm thực nghiệm, tin rằng có “ở đây” và “ở kia”, điều này chỉ có thể áp dụng đối với việc điều hướng một phi thuyền trong chế độ bay dưới ánh sáng, tức là thấp hơn tốc độ ánh sáng. Trong hình thức điều hướng hay di chuyển này, thông qua không gian giữa hai nơi, bạn có thể sử dụng một bản đồ sao truyền thống nơi các chòm sao xuất hiện, trong đó có các ngôi sao và hành tinh cùng khoảng cách giữa chúng, thường được các bạn đo bằng đơn vị thiên văn (AU), tức khoảng cách trung bình giữa Trái Đất và Mặt Trời, và với khoảng cách xa thì dùng năm ánh sáng, tức khoảng cách mà ánh sáng đi được trong một năm.

 

Những hình thức điều hướng và tính toán khoảng cách này chỉ đại diện cho một khái niệm mang tính diễn giải từ góc nhìn của chiều không gian thứ ba nơi Trái Đất đang ở hiện tại. Mặc dù AU, hay đơn vị thiên văn, hữu ích cho khoảng cách ngắn, nhưng năm ánh sáng lại không hữu ích vì nó phụ thuộc vào một yếu tố biến đổi là thời gian. Trong các khoảng cách liên sao dài, AU trở nên vô dụng vì đó là một giá trị khoảng cách quá nhỏ.

 

Vì tốc độ ánh sáng là một yếu tố biến đổi nên kết quả tính toán khoảng cách sẽ chỉ mang tính tương đối đối với nơi chốn, hoàn cảnh và ý thức - dù là cá nhân hay tập thể - đang thực hiện việc đo lường đó. Ngay cả với những phép tính hoàn toàn tự động, kết quả vẫn luôn biến đổi.

 

Việc đo các khoảng cách lớn bằng năm ánh sáng chỉ được dùng theo cách tham chiếu, nhưng nó còn rất xa mới đạt được sự hoàn hảo. Chúng ta chỉ có thể đo tốc độ ánh sáng trong phạm vi nơi chốn hoặc các tham số mà chúng ta biết và trong môi trường xung quanh gần mình, chứ không biết giá trị thật sự của nó ở những nơi hay hoàn cảnh khác sẽ như thế nào. Điều đó có nghĩa là chúng ta chỉ có thể ước tính hoặc tính gần đúng cách ánh sáng sẽ hành xử dựa trên kinh nghiệm trước đây của mình khi đi qua các nơi đó. Điều này dẫn tới nhu cầu phải tạo ra một bản đồ hoặc sơ đồ xấp xỉ các giá trị vận tốc ánh sáng tùy theo từng khu vực, thường là theo từng phần tư thiên hà hoặc theo một nhóm chòm sao thường xuyên được lui tới, nhưng nó vẫn luôn chỉ là sự xấp xỉ, dù cho các thiết bị đo lường có chính xác đến đâu đi nữa.

 

Vì tổng tốc độ ánh sáng là biến đổi nên nó không đáng tin cậy để mô tả các khoảng cách lớn và như tôi đã nói trước đó, nó chỉ được dùng như một tham chiếu ở đây để các bạn dễ hiểu hơn. Tôi sẽ dùng các thuật ngữ “dưới ánh sáng” (tốc độ thấp hơn ánh sáng) và “trên ánh sáng” (cao hơn tốc độ ánh sáng). Đồng nghĩa với chuyến bay trên ánh sáng, sau này tôi cũng sẽ dùng thuật ngữ “warp”, trong đó 1 “warp” sẽ tương đương với 1 hệ số ánh sáng. Tôi chỉ dùng các thuật ngữ này như những tên gọi mang tính nhân hóa để các bạn dễ hiểu hơn vì các bạn đã quen với thuật ngữ đó qua các bộ phim khoa học viễn tưởng của mình, chứ không phải là thuật ngữ thông dụng của chủng tộc tôi.

 

Các phi thuyền của chủng tộc Taygetan, cũng như của bất kỳ chủng tộc tương tự nào khác, không đo khoảng cách bằng tốc độ ánh sáng vì những lý do đã mô tả ở trên. Thay vào đó, chúng tôi dùng các hệ số muon, hay tốc độ truyền của một sóng năng lượng ở tần số lepton muon, thứ được biết đến trên Trái Đất với tên gọi neutrino. Từ tiếng Hy Lạp “leptos”, nghĩa là “nhỏ” hoặc “mỏng”. Mặc dù khái niệm muon có sự khác biệt khá lớn giữa khoa học loài người và khoa học Taygetan, vì định nghĩa đầu tiên chứa khối lượng còn định nghĩa thứ hai chứa tiềm năng etheric, đồng thời cũng công nhận hoặc quan sát xu hướng của nó là một làn sóng di chuyển ngay tại điểm ranh giới giữa cái mà chúng ta có thể gọi là thế giới vật chất và thế giới etheric. Tương tự photon, muon trong nhận thức của người Taygetan vừa là sóng vừa là hạt cùng một lúc. Nói cách khác, các muon mang tính bán etheric và ảnh hưởng tới cả thế giới vật chất lẫn thế giới etheric.

 

Các muon di chuyển ở những hệ số tương đương với hàng ngàn hệ số ánh sáng, và theo khoa học Taygetan, chúng có nhiều điểm chung với một hạt kiểu tachyon hơn là photon, và sự truyền dẫn của chúng gần như tức thời. Chính độ trễ rất nhỏ trong chữ “gần như” đó lại hữu ích cho chúng tôi trong việc đo tốc độ và khoảng cách vì nó cũng chính xác hơn, dù không bao giờ hoàn hảo, và mặc dù tốc độ của nó thay đổi tùy hoàn cảnh, nó vẫn đủ chính xác để được dùng trong điều hướng liên sao. Việc sử dụng các hệ số muon-tachyon để đo tốc độ hay khoảng cách cũng giúp chúng tôi không phải dùng quá nhiều số 0 hay số thập phân như khi dùng hệ số ánh sáng.

 

Cũng cần nói thêm rằng việc truyền muon được mã hóa chính là hình thức truyền dữ liệu và liên lạc trực tiếp theo thời gian thực giữa các nền văn minh liên minh, ngay cả khi họ cách nhau nhiều chòm sao, cho phép hai người ở hai hành tinh xa xôi cách nhau hàng trăm hay hàng ngàn năm ánh sáng vẫn có thể trò chuyện theo thời gian thực, hoặc cho phép liên lạc giữa một phi thuyền và hành tinh căn cứ của nó dù khoảng cách vô cùng lớn, ngay cả khi phi thuyền đang trong hành trình trên ánh sáng. Điều này là bởi vì các muon “di chuyển” không phải trong không gian “đo lường được” của thế giới “vật chất”, mà chúng di chuyển thông qua thế giới etheric nơi khoảng cách thật sự không tồn tại như một khái niệm. Việc mã hóa muon được thực hiện bằng cách luân phiên các tính chất TAU và phản-TAU của sự truyền dẫn. Đây là các muon hay neutrino loại TAU và các đối ứng mang điện tích đối lập hoặc mang tính chất phản vật chất của chúng. Mã hóa TAU/phản-TAU.

 

Các loại động cơ phi thuyền

 

Tôi sẽ không định nghĩa ở đây tất cả các loại động cơ phi thuyền đang tồn tại, tôi chỉ định nghĩa những loại mà Taygetna sử dụng phổ biến nhất.

 

Đối với chuyến bay dưới ánh sáng, thường dùng hai loại:

1: Động cơ thao túng trọng lực và

2: Động cơ phản lực bằng tia plasma

 

Loại động cơ này chỉ hữu ích cho khoảng cách ngắn hoặc cho các thao tác chính xác bên trong và bên ngoài bầu khí quyển của một hành tinh. Chúng cũng được dùng để di chuyển khoảng cách liên hành tinh và không bao giờ được dùng để đi các khoảng cách liên sao lớn.

 

Đối với chuyến bay liên sao, chúng tôi sử dụng các động cơ ngâm toàn phần hình xuyến, vốn là một chức năng của động cơ plasma điện từ phản lực. Tia plasma trong chế độ ngâm toàn phần hình xuyến. Tôi sẽ mô tả chi tiết cách hoạt động của nó trong phần thứ hai của bài viết này.

 

Bản đồ sao theo tần số

 

Đối với chuyến bay dưới ánh sáng ở các khoảng cách liên hành tinh ngắn, không cần gì hơn ngoài việc biết bản đồ theo cách thông thường, với vị trí các điểm đến và hành tinh. Khoảng cách/tọa độ trong một mặt phẳng ba chiều, tức là biết cách đọc bản đồ ba chiều theo các tọa độ X, Y và Z, thường được trình bày cho phi hành đoàn dưới dạng một ảnh toàn ký cực kỳ chi tiết và khổng lồ. Nhưng cách biểu đạt bản đồ này sẽ không còn hữu ích vào thời điểm phi thuyền của chúng tôi đi vào chế độ bay trên ánh sáng, hay “warp”, bởi vì như bạn sẽ thấy bên dưới, mọi quy tắc đều thay đổi hoàn toàn.

 

Trong sự vắng mặt của vật chất như một thực thể thật sự, vũ trụ chỉ tồn tại như kết quả của sự biểu hiện của một ý thức dưới dạng các sóng dừng bên trong đại dương năng lượng tiềm năng gọi là ether, mọi thứ tồn tại đều được tóm gọn thành một “nồi súp” các tần số bên trong năng lượng tiềm năng đó. Để tạo ra một bản đồ sao dễ hiểu và hữu ích cho chế độ bay trên ánh sáng, chúng ta phải quên đi các bản đồ sao ba chiều thông thường.

 

Khi chúng ta tăng tốc và tiến gần tới tốc độ ánh sáng, chúng ta dần mất đi độ chính xác và độ chuẩn xác trong các bản đồ sao ba chiều. Khi đạt tới tốc độ ánh sáng và vượt qua nó, các bản đồ sao ba chiều hoàn toàn mất độ chính xác và vì thế cũng mất luôn tính hữu dụng, bởi ở những tốc độ đó, không thể phát hiện bất cứ thứ gì bên ngoài phi thuyền. Bạn không thể xác định vị trí của mình trong một bản đồ X, Y, Z. Điều này xảy ra nếu chúng ta cố đạt tới những tốc độ đó mà vẫn ở trên cùng một cõi hiện hữu nơi chúng ta bắt đầu, bởi việc gia tốc một phi thuyền có khối lượng sẽ tạo ra lực cản ngày càng lớn đối với sự tiến lên. Việc tăng tốc cũng tạo ra một lực kéo không thể vượt qua chỉ bằng lực do các động cơ thông thường tạo ra. Điều này được giải thích trong thuyết tương đối của Einstein và có phần đúng.

 

Như tôi đã đề cập trước đó, bản thân vũ trụ chính là một Ma Trận của các tần số. Đối với khoa học Taygetan, cũng như của phần lớn các chủng tộc tương tự khác, điều này không chỉ là một sự thật đã được chứng minh mà còn có thể được khai thác hoặc thao túng, có thể sửa đổi cấu trúc của nó một cách nhân tạo. Để điều hướng ở tốc độ cao hơn ánh sáng, chúng ta phải suy nghĩ khác đi. Chúng ta không nên tiếp tục nghĩ tới các bản đồ với khoảng cách và vị trí nữa, cũng không nên nghĩ tới các vectơ chuyển động. Chúng ta phải chỉ nghĩ tới các tần số dao động nguyên thủy.

 

Một tần số dao động nguyên thủy là thứ định nghĩa các dao động của các thành phần hạ nguyên tử tạo nên chính vật chất. Nó là tốc độ hoặc tần số giữa mỗi chu kỳ khử phân cực giữa trường etheric và thế giới hay cõi vật chất trong chuỗi 1, 2, 4, 8, 7, 5 / 3, 6, 9, đã được mô tả trong “Cơ Chế Biểu Hiện”.

 

Để hình dung bản đồ sao theo tần số trông như thế nào, chúng ta phải hiểu rằng mỗi vị trí hay nơi chốn, ví dụ như Trái Đất, đều có một tần số riêng biệt và không thể thay thế, định nghĩa nó bên trong không-thời gian mà chúng ta gọi là Ma Trận nguyên thủy hay Ma Trận vũ trụ. Trong trường hợp của Trái Đất, tần số cụ thể đó rất giống với Cộng hưởng Schumann của nó, vốn chính thức dựa trên tần số 7.83hz và có liên hệ mật thiết với cộng hưởng này.

 

Mỗi hành tinh đều có tần số dao động riêng của nó. Mặc dù thuật ngữ “Cộng hưởng Schumann” chỉ dùng cho Trái Đất, chúng ta có thể nói rằng mỗi hành tinh và mỗi nơi trong vũ trụ đều có “Cộng hưởng Schumann” riêng của nó, dù tôi chỉ nhắc điều này như một cách giải thích. Tức là, mỗi điểm trong vũ trụ đều có một tần số đặc trưng và độc nhất cho nơi đó. Để tạo một bản đồ sao dựa trên tần số, chúng ta phải sắp xếp các tần số theo dạng biểu diễn số học của chúng và lưu chúng trong cơ sở dữ liệu. Ví dụ, Trái Đất sẽ là 7.83Hz, Sao Hỏa: 13.5Hz, Sao Kim: 221.23Hz, Sao Mộc: 183.58Hz (chỉ là các tần số cơ sở). Bất kỳ điểm nào trong không gian cũng sẽ có tần số riêng không thể lặp lại.

 

Ở Taygeta, chúng tôi không đo dao động của vật chất bằng Hertz (Hz) mà bằng “chu kỳ” hoặc đơn vị Dzi'izí. Vì vậy, nếu 1Hz bằng 1,894 Dzi'izí, thì chúng ta chuyển đổi 7.83Hz của Trái Đất bằng cách nhân 7.83 x 1.894 = 14.83002Dz. Trái Đất trong các bản đồ sao sẽ có tần số nền là 14.83002Dz, Sao Hỏa là 25.569Dz, Sao Kim là 419.00962Dz và Sao Mộc là 347.70052Dz, hay đơn vị Dzi'izí (Dz).

 

Một Dzi'izí đại diện cho giá trị trung bình được chấp nhận của tần số dao động nguyên thủy nhất của vật chất trong mật độ 5. Nền tảng của nó là tần số dao động của nguyên tố Hydro ở độ không tuyệt đối trong không gian liên sao. 1Dz tương đương với một chu kỳ trên mỗi đơn vị thời gian và làm cơ sở tham chiếu cho đơn vị thời gian đó chính là góc nhìn về độ dài thời gian của phi hành đoàn trên phi thuyền đang thực hiện phép đo (đơn vị SIT, hay độ dài của đơn vị thời gian bên trong phi thuyền). Điều này có nghĩa là một Dz không thể hoàn toàn chính xác tuyệt đối. Tuy nhiên, nó đủ để cho phép các phép tính dẫn đường phi thuyền một cách hiệu quả ngay cả khi có những biến thiên nhỏ, điều mà phi hành đoàn sẽ phải bù trừ bằng những cách khác trong hoặc sau mỗi chuyến đi nếu cần thiết. Chúng ta phải nhớ rằng thời gian mang tính tương đối với từng ý thức và không bao giờ là một hằng số.

 

Ở độ không tuyệt đối, không tồn tại chuyển động phân tử nên nhiệt độ được đo là bằng không, hay sự vắng mặt của chuyển động phân tử. Ở nhiệt độ này, tần số dao động vẫn tiếp tục tồn tại ở cấp độ hạ nguyên tử.

 

Tần số hay dao động Dz của bất kỳ nơi nào là kết quả của tổng hòa và sự tương tác của tất cả các tần số khác đang tương tác với nơi đó. Mọi thứ tồn tại trong vũ trụ đều kết nối với nhau thông qua cùng một “nồi súp” tần số đang dao động bên trong một môi trường duy nhất là ether, và ether chính là ý thức thuần khiết. Ether là Nguồn. Khối lượng và độ phức tạp của một vật thể cụ thể trong vũ trụ là kết quả của sự tích lũy chú ý mà nơi đó nhận được từ Nguồn, hay ether. Bạn nhận được càng nhiều sự chú ý thì khối lượng của bạn càng lớn, điều đó cũng đồng nghĩa với nồng độ năng lượng càng cao.

 

Lý do vì sao một vật thể nào đó nhận được nhiều sự chú ý hơn sẽ phụ thuộc vào sự tương tác mà nó có với các vật thể xung quanh nó, bởi vì mọi thứ đều liên kết với nhau. Điều này áp dụng cho bất cứ thứ gì, từ những thiên thể lớn như Mặt Trời hay các hành tinh cho tới những vật nhỏ như đồng xu, chiếc chìa khóa, con ốc, và thậm chí cả các hạt hạ nguyên tử. Mỗi vật thể riêng lẻ đều có một mục đích và đồng thời là một phần của một vật thể lớn hơn, mà vật thể đó lại là một phần của một vật thể còn lớn hơn nữa, cứ như vậy cho tới khi đạt tới tổng thể, tức vũ trụ hay Nguồn. Mọi thứ tồn tại đều có lý do và không có gì là ngẫu nhiên hay tình cờ bên trong Ma Trận nguyên thủy vũ trụ.

 

Trong một bản đồ sao theo tần số bằng đơn vị Dzi'izí, hay viết tắt là Dz, số lượng chữ số thập phân càng nhiều thì độ chính xác mà bạn mô tả vị trí bên trong vũ trụ càng cao. Vì vậy, đối với Trái Đất, con số tần số 14.83002Dz sẽ đại diện cho toàn bộ hành tinh. Nếu chúng ta thêm nhiều số thập phân hơn: 14.830028452, chúng ta có thêm chi tiết để bao gồm tần số .000008452Dz mô tả lục địa châu Âu. Và như vậy vị trí sao: 14.83002,8452,700532,5100688,71200206,898210030,738007332101Dz cho chúng ta biết: 14.83002 (Trái Đất), 8452 (lục địa châu Âu), 700532 (Pháp), 5100688 (Paris), 71200206 (Tháp Eiffel), 898210030 (nhà hàng), 738007332101 (bàn số 4).

 

Và với nhiều số thập phân hơn nữa, chúng ta có thể biểu diễn chiếc đĩa nào trên bàn, và hạt cơm nào trong chiếc đĩa đó, hoặc thậm chí từng phân tử riêng lẻ. Mỗi vật thể có khối lượng trong vũ trụ Ma Trận nguyên thủy đều có tần số riêng biệt và chính xác của nó. Bí mật nằm ở chỗ biết được tần số cụ thể đó là gì và đưa nó vào một cơ sở dữ liệu nhất quán, và điều này đạt được bằng các thiết bị và cảm biến tiên tiến.

 

Trong trường hợp Trái Đất, châu Âu, Pháp, Paris, nếu chúng ta đã ghi lại tần số 14.83002,8452,700532,5100688Dz thì đó là tất cả những gì cần thiết để dẫn phi thuyền của chúng tôi tới đúng vị trí đó. Cần lưu ý rằng các tần số Dz không phải là tọa độ, bởi vì chúng chỉ hữu ích trong một bản đồ sao ba chiều thông thường để dẫn đường cho các phi thuyền bay ở tốc độ dưới ánh sáng, hay thấp hơn tốc độ ánh sáng.

 

Với một bản đồ hệ số dẫn đường Dz, chúng ta loại bỏ nhu cầu phải nhập quá nhiều dữ liệu không cần thiết vào máy tính điều hướng, khiến việc nhập dữ liệu từ các vị trí lớn hơn trở nên không cần thiết, vì tần số cụ thể chính xác của toàn bộ hệ Mặt Trời dù sao cũng sẽ quá lớn. Ngoài ra, khi tiếp cận Paris với nhà hàng ở Tháp Eiffel là điểm đến, không cần phải nhập toàn bộ chuỗi Dz chính xác mà tôi đã đưa làm ví dụ ở trên, vì chỉ cần đưa phi thuyền tới Paris, thoát khỏi chế độ trên ánh sáng, rồi sau đó điều hướng bằng tọa độ X, Y, Z thông thường, hoặc đơn giản là nhìn bằng mắt để tìm điểm đến một cách tự nhiên. Thực tế, trong sử dụng hằng ngày, người ta thường thoát khỏi chế độ trên ánh sáng ở vùng lân cận Trái Đất rồi mới điều hướng bằng tọa độ thông thường. Điều này cũng phụ thuộc vào kích thước và khối lượng của từng phi thuyền, vì các phi thuyền lớn cần nhiều không gian trống hơn để cơ động.

 

Tóm lại, mỗi nơi trong vũ trụ sẽ có tần số riêng biệt không thể lặp lại của nó như một địa chỉ hay danh tính, và đây là kết quả của tổng hòa và sự tương tác với các tần số khác xung quanh nó. Tổng hòa tương ứng với tần số cụ thể của từng nơi là kết quả của lượng sự chú ý mà nó nhận được từ một ý thức hoặc tổng hòa các ý thức. Điều này trực tiếp đến từ ether hay Nguồn, kết hợp với tổng hòa các mảnh ý thức của chính Nguồn đó, tức là của các cá thể cư trú tại nơi đó, những phần tách ra từ cùng một Nguồn.

 

Như xảy ra trong bất kỳ môi trường năng lượng tiềm năng nào, để các vật thể rắn tồn tại bên trong nó, cần phải tạo ra các sóng dừng nơi các vật thể rắn đó hình thành tại các nút của những sóng dừng này. Để tạo ra chúng, chúng ta cần một bội điều hòa (sóng hài) tần số, nếu không thì cơ chế tạo ra một nút hay điểm biểu hiện của vật chất sẽ là điều bất khả thi.

 

Tần số bội điều hòa đó sẽ luôn xuất hiện dưới dạng hình học hoàn hảo về mặt toán học, như đã được mô tả trong các bài viết trước, vì vậy hướng hay vị trí của một nơi cụ thể trong đơn vị Dz sẽ luôn tương ứng với các mô thức toán học-hình học có thể dự đoán và có trật tự, tạo ra một Ma Trận thông tin có trật tự và có thể nghiên cứu được, cũng chính là mạng lưới năng lượng mà Ma Trận vũ trụ tạo ra hay biểu hiện dưới dạng vật lý của nó.

 

Khi ghi nhớ rằng mọi thứ đều kết nối với nhau và tần số của một nơi cụ thể như địa chỉ của nó trong vũ trụ có liên hệ mật thiết và kết nối với tất cả các nơi khác, đồng thời cũng phụ thuộc vào các nơi khác dưới dạng chuỗi toán học-hình học, thì địa chỉ của một nơi chưa biết bằng cách dùng các hệ số Dz ghép với một bội điều hòa tần số giờ đây trở nên có thể dự đoán và tính toán trước được. Điều này cho phép điều hướng một phi thuyền bên trong “nồi súp” các tần số hiện hữu phần lớn chưa được biết tới, chỉ bằng cách hiểu sự tương tác giữa các tần số của một nơi. Điều này chỉ đơn giản là biết được bội điều hòa của tần số đang kiểm soát hoặc chi phối một khu vực không gian cụ thể.

 

Một bội điều hòa của tần số trong điều hướng sao là một chuỗi có trật tự của các tần số dưới dạng toán học-hình học đang tạo ra khối lượng cấu thành nên các thiên thể trong một khu vực không gian. Tần số bội điều hòa đó cũng giống như âm nhạc. Nó phải hoàn hảo, nếu không sóng dừng tạo thành toàn bộ vật chất sẽ sụp đổ. Bất kỳ sự lệch tông nào trong “bản nhạc” cấu thành nó sẽ làm vô hiệu toàn bộ hệ thống và động lực tạo thành của nó.

 

Trong trường hợp này, điều sẽ xảy ra nếu có lỗi trong bội điều hòa tần số được lập trình trong máy tính trên phi thuyền là nó sẽ gây ra lỗi điều hướng, khiến phi thuyền thoát khỏi siêu không gian vào đúng thời điểm mà hệ thống phát hiện sự lệch tông xảy ra, và trước khi tới đích. Điều này thường xảy ra trong không gian sâu và sẽ khiến phi hành đoàn phải tính toán lại các tham số và phép tính điều hướng trước khi tiếp tục hành trình, nhưng nó sẽ không dẫn tới điều gì mang tính thảm họa.

 

Chuỗi cần được tuân theo dưới dạng lộ trình bay cho một phi thuyền trên ánh sáng là một chuỗi liên tiếp các tần số có liên hệ mật thiết với nhau được sắp xếp theo trật tự (âm nhạc). Theo cách có thể nghe được, bội điều hòa tần số của quỹ đạo phi thuyền nghe giống như một chuỗi các âm thanh khác nhau nhưng hài hòa và liên kết với nhau. Nó nghe như một giai điệu cụ thể. Giai điệu âm nhạc này càng phức tạp thì các thao tác mà phi thuyền cần thực hiện sẽ càng chính xác, bởi vì độ phức tạp càng lớn thì chi tiết càng nhiều, cũng đồng nghĩa với việc nó sẽ mang theo nhiều thông tin hơn về hành trình-điểm đến, những điểm dọc đường, các vị trí chính xác như ví dụ về nhà hàng ở Tháp Eiffel đã mô tả phía trên.


Với một bội điều hòa tần số cực kỳ tinh vi, cách diễn giải bằng âm thanh sẽ nghe như cả một bản giao hưởng hoàn chỉnh và rất phức tạp, nhưng thường thì chỉ một chuỗi âm thanh giống như một giai điệu cơ bản cũng đủ để thay đổi hướng đi của phi thuyền hoặc khiến phi thuyền hiểu được bội điều hòa tần số nào nó cần để tới đích. Vì vậy chỉ cần một chuỗi hay một giai điệu là đủ để có dữ liệu cần thiết nhằm dẫn phi thuyền trở về nhà. Giai điệu và dữ liệu của nó dưới dạng tần số sẽ được đối chiếu với cơ sở dữ liệu hay bản đồ sao theo tần số và máy tính sẽ thiết lập lộ trình cùng điểm đến.

 

Hãy nghĩ về vũ trụ, không gian và thiên hà với tất cả các Mặt Trời, hành tinh và những thiên thể khác mà nó chứa đựng không phải như các vật thể vật lý, mà như các đơn vị tần số được diễn giải bằng các giá trị số trong đơn vị Dz. Mỗi thiên thể đều có tần số riêng của nó, không chỉ là kết quả của chính nó và của các ý thức tạo ra nó bằng sự chú ý của họ, mà còn là kết quả của sự tương tác mà nó có với tất cả các thiên thể khác khi mọi thứ đều liên kết với nhau. Vật thể càng có khối lượng lớn thì càng nhận được nhiều sự chú ý từ ý thức, do đó giá trị Dz của nó càng cao.

 

Hãy nhìn hoặc tưởng tượng vũ trụ như chỉ được cấu thành từ các tần số dao động, được diễn giải bằng và như một chuỗi số. Giờ hãy nghĩ tới một tờ giấy đầy những con số như một ví dụ. Điều này đại diện cho một khu vực thiên hà. Các con số mang ký hiệu hay giá trị thấp đại diện cho các thiên thể nhỏ, các số không (0.0000) hoặc các con số có phần thập phân cực nhỏ như 0.0000000232 đại diện cho những nơi trong không gian có rất ít khối lượng trên mỗi đơn vị thể tích, chỉ có dấu vết của các nguyên tố, chủ yếu là hydro và heli hoặc các hạt bụi. Các đơn vị số lớn đại diện từ tiểu hành tinh cho tới các hành tinh và Mặt Trời. Như đã nói ở trên, giá trị số càng cao thì vật thể càng lớn hay khối lượng càng lớn.

 

Vì vậy, thoạt nhìn, chỉ bằng cách nhìn vào các con số trên tờ giấy của chúng ta, chúng ta có thể thấy và hiểu nơi nào có các vật thể khối lượng lớn. Giá trị số của vùng không gian trống nhưng ở gần một vật thể khối lượng lớn, dù thực tế gần như không có gì ở đó, cũng sẽ có giá trị cao hơn so với vùng tương đương trong không gian sâu, và giá trị này sẽ giảm dần theo số học khi chúng ta di chuyển xa khỏi vật thể khối lượng lớn đó. Điều này phần nào có thể được diễn giải như hiện tượng cong không gian trong thuyết tương đối của Einstein, thứ dù phần lớn là sai lầm nhưng vẫn có một vài điểm đúng nhỏ, chỉ là bị diễn giải sai như trường hợp này. Không gian không cong như Einstein nói, mà chỉ có ý thức là thứ dường như làm biến dạng cấu trúc hay lưới số học không gian. Chỉ có tâm trí là thứ “uốn cong”.

 

Cho tới giờ tôi đã nói về một bản đồ số học diễn giải các tần số cụ thể cho từng nơi. Điều này sẽ đại diện cho một khu vực không gian nhưng nó không mang tính động. Nó có các giá trị cố định và không chuyển động như một bức ảnh. Nhưng vũ trụ không như vậy, nó mang tính động và luôn thay đổi, nơi điều duy nhất không đổi chính là sự thay đổi.

 

Giờ hãy tưởng tượng một chồng giấy, mỗi tờ chồng lên nhau và mỗi tờ đều đầy những con số tương ứng với các con số cụ thể trên các tờ giấy trước đó, nhưng với một sự tăng hoặc giảm nhẹ về giá trị, tăng dần qua nhiều tờ giấy. Mỗi tờ giấy sẽ đại diện cho một khoảnh khắc cố định trong thời gian, và các tờ giấy chồng lên nhau sẽ đại diện cho sự tiến triển theo thời gian, tức là sự chuyển động của các tần số đại diện cho các vật thể.

 

Tờ giấy ngay bên dưới tờ cơ sở của chúng ta sẽ là khoảnh khắc trước đó trong thời gian và tờ tiếp theo sẽ là khoảnh khắc kế tiếp. Một tờ giấy cụ thể càng xa tờ cơ sở đầu tiên thì nó càng ở xa hơn trong quá khứ hoặc tương lai. Nhưng tất cả các tờ giấy đều cố định và chúng chỉ đơn thuần tồn tại như vậy, cũng giống như toàn bộ chồng giấy. Chỉ có ý thức của người quan sát là thứ đặt sự chú ý vào việc theo dõi sự tiến triển giá trị số của một vật thể cụ thể mới tạo ra chuyển động, hay mang lại ý nghĩa và sự diễn giải cho sự tiến triển của các tần số cố định của vật thể đang được nói tới.

 

Khi di chuyển ở chế độ trên ánh sáng, không chỉ phải đưa vào máy tính địa chỉ điểm đến dưới dạng tần số, mà còn phải đưa vào dữ liệu về thời điểm chúng ta muốn tới đích. Trong ví dụ chồng giấy của chúng ta, điểm đến: 14.83002Dz (Trái Đất) sẽ chỉ là một trong những tham số cần nhập (dữ liệu: Bil'h trong tiếng Taygetan), tương đương với một vị trí bên trong lưới số học của tờ giấy. Dữ liệu tiếp theo cần nhập vào máy tính sẽ là “khi nào” (dữ liệu: Na'al trong tiếng Taygetan), đại diện cho khoảnh khắc thời gian của Trái Đất mà phi thuyền sẽ tới đích, được biểu diễn ở đây như việc chúng ta muốn đến tờ giấy nào.

 

Như bạn có thể thấy, chuyến bay liên sao ở chế độ trên ánh sáng tương đương với du hành thời gian. Mọi phi thuyền có khả năng bay trên ánh sáng theo định nghĩa đều là cỗ máy thời gian và việc nó tới điểm đến vào bất kỳ ngày nào trong hiện tại, tương lai hay quá khứ đều dễ dàng như nhau. Việc phi thuyền tới điểm đến ở quá khứ xa xôi hay tương lai xa xôi không tạo ra thêm bất kỳ khó khăn nào. Nó chỉ đơn giản là thêm một dữ liệu định hướng nữa được diễn giải bằng các hệ số Na'al và Bil'h sử dụng đơn vị Dzi'izí hay Dz.

 

Có một yếu tố thứ ba cần đưa vào máy tính điều hướng, đó là hệ số Ho'dee'zá, có thể dịch sang tiếng Anh là “parallax” (thị sai)*, mặc dù ý nghĩa hơi khác một chút. Yếu tố này sẽ cung cấp cho máy tính điều hướng dữ liệu về hướng mà phi thuyền nên tiếp cận điểm đến khi thoát khỏi siêu không gian hay chuyến bay trên ánh sáng.

 

Bil'h tương đương với “Ở đâu” (vị trí nào trong lưới số học chung của toàn bộ các tờ giấy). Na'al tương đương với “Khi nào” (ở tờ giấy cụ thể nào trong toàn bộ chồng giấy mà vị trí mục tiêu tồn tại). Ở đâu và khi nào để tới đích. Ho'dee'zá - chúng ta sẽ tới từ hướng nào.

 

Việc chuyến bay liên sao ở tốc độ lớn hơn ánh sáng tương đương với du hành thời gian ngay lập tức có nghĩa là phi hành đoàn có khả năng thay đổi dòng thời gian, quay về quá khứ để ngăn chặn sự việc, hoặc du hành tới tương lai để xem điều gì xảy ra. Mặc dù không tồn tại nghịch lý thời gian - một chủ đề mà tôi sẽ viết sâu hơn sau này - nhưng điều đó vẫn mang theo một trách nhiệm rất lớn về đạo đức và tính chính trực cá nhân đối với toàn bộ phi hành đoàn, cùng với mọi kiến thức liên quan tới vấn đề không can thiệp và hậu quả của bất kỳ sự can thiệp nào đối với bất kỳ chủng tộc nào, hoặc thậm chí đối với chính bản thân họ. Đây không phải điều có thể xem nhẹ và đó là một trong những lý do vì sao không phải chủng tộc nào với bất kỳ mức độ phát triển tâm linh và đạo đức nào cũng có, hoặc nên có, khả năng bay liên sao trên ánh sáng.

 

Bạn không thể điều hướng ở tốc độ gần ánh sáng, chứ chưa nói tới cao hơn ánh sáng, nếu vẫn suy nghĩ bằng các khái niệm và bản đồ ba chiều như tôi đã nói. Bạn phải suy nghĩ hoàn toàn theo tần số. Và việc suy nghĩ theo tần số ở đây có nghĩa là hiểu rằng chúng được tạo ra và tồn tại nhờ sự tương tác của một ý thức sáng tạo. Điều này có nghĩa là bạn không thể điều hướng hoặc tiếp cận các tốc độ gần và vượt ánh sáng mà không bước vào lĩnh vực bản chất của ý thức, của tâm linh, và sự thấu hiểu sâu sắc về thực tại.

 

Đối với chuyến bay liên sao ở tốc độ trên ánh sáng, cần phải có, như một thành phần chủ yếu và không thể thay thế, một mức độ phát triển tâm linh cao. Cả ở cấp độ cá nhân lẫn của toàn bộ phi hành đoàn, cũng như của toàn bộ nền văn minh đã phát triển công nghệ và sự hiểu biết đủ để đạt được điều đó.

 

Với tư duy 3D dựa trên chủ nghĩa duy vật, như cách khoa học Trái Đất đang vận hành, điều đó đơn giản là bất khả thi.

 

Trong phần thứ hai của bài viết này, tôi sẽ mô tả cách một phi thuyền hoạt động, cấu trúc của nó, cấu trúc của siêu không gian và cách có thể vượt qua những khoảng cách khổng lồ.

 

Swaruu de Erra

 

 


 

Link gốc của bài viết

 

https://www.youtube.com/watch?v=lKjaPq04eBo

 

https://swaruu.org/transcripts/pleiadian-message-stellar-navigation-time-travel-stellar-maps-and-more

 

 

 

Nếu bạn muốn hiểu sâu hơn về các khái niệm trong cuộc trò chuyện này, bạn có thể đọc thêm các bài sau:

 

- Chúng ta đang sống trong Ma trận 3D

- Mật độ

- Điều hướng sao (Du hành thời gian, Bản đồ sao và HƠN THẾ NỮA)

- Trí tuệ nhân tạo, người nhân bản, linh hồn nhân tạo và chip

- Năng Lượng Tự Do (Điểm Không): Cơ Chế Của Sự Biểu Hiện

 

 

 

Theo dõi trên Facebook

 

https://www.facebook.com/Go-With-The-Earth-110516891516479/

 

Xem toàn bộ thư viện bài viết

 

https://gowiththeearth.blogspot.com/2021/10/tat-ca-sach-co-tai-blogs.html

Đăng nhận xét