Teal Swan Transcripts 813
Vì sao nhiều người thuộc thế hệ trẻ quyết
định không sinh con?
02-05-2026
👉 Tóm
tắt nội dung: Bài viết phân tích những nguyên nhân chính
khiến ngày càng nhiều người thuộc thế hệ Millennials và Gen Z lựa chọn không
sinh con. Nội dung đề cập đến tác động lâu dài của những tổn thương từ cách
nuôi dạy con trong quá khứ, áp lực kinh tế ngày càng gia tăng, chi phí nhà ở và
giáo dục đắt đỏ, gánh nặng công việc, sự thiếu vắng hệ thống hỗ trợ gia đình và
cộng đồng, bất lợi nghề nghiệp đối với phụ nữ khi làm mẹ, sự bất ổn trong các mối
quan hệ hiện đại, cùng nỗi lo về tương lai của thế giới. Theo bài viết, quyết định
không có con không đơn thuần là lựa chọn cá nhân mà phản ánh những thay đổi sâu
sắc về xã hội, kinh tế và văn hóa trong thời đại ngày nay.
---------
Trong vài tháng
qua, rất nhiều người đã gửi câu hỏi muốn biết vì sao ngày càng nhiều người thuộc
thế hệ Millennials (1981-1996) và thế hệ Gen Z (1997-2012) lại chọn không có
con. Vì vậy, theo yêu cầu của rất nhiều người, trong tập hôm nay, tôi sẽ giải
thích cho bạn hiện tượng gần đây đang xảy ra tại một số khu vực trên thế giới
này.
Không có một lý
do duy nhất giải thích tại sao rất nhiều người thuộc các thế hệ trẻ không sinh
con. Thay vào đó, có cả một danh sách các nguyên nhân. Vậy hãy bắt đầu với
nguyên nhân đứng đầu danh sách những lý do chính khiến rất nhiều người ngày nay
không muốn có con.
Thứ
nhất,
bắt đầu từ thế hệ Millennials, thời kỳ mà
mọi người còn mù mờ về những rối loạn trong gia đình đã kết thúc.
Nhiều người thuộc
các thế hệ trẻ hoàn toàn không có ý định sinh con nếu bản thân họ hoặc những đứa
trẻ đó sẽ phải trải qua những kiểu rối loạn tương tự. Các thế hệ trẻ là những
người đầu tiên thực sự có ý thức trong việc kết nối hai điều với nhau: những đau
khổ mà họ đang trải nghiệm trong cuộc sống trưởng thành và cách mà họ đã được
nuôi dạy khi còn nhỏ.
Nói một cách
khái quát, kết quả của cách nuôi dạy con cái từ thế hệ
Baby Boomers (1946-1964) đủ tệ để buộc xã hội phải thức tỉnh tập thể về vấn
đề làm cha mẹ nói chung. Thực ra, việc nuôi dạy con trước thế hệ Baby Boomers
cũng chẳng có gì đáng ca ngợi. Bạn hoàn toàn có thể chỉ ra nhiều điều mà các thế
hệ trước nữa đã làm còn tệ hơn những gì thế hệ Baby Boomers đã làm.
Vì vậy, bạn và đặc
biệt là những người thuộc thế hệ Baby Boomers, những người phần lớn tin rằng
cha mẹ họ còn tệ hơn họ rất nhiều, có thể đang tự hỏi điều gì đã khiến cách
nuôi dạy con của thế hệ Baby Boomers trở nên tồi tệ đến mức những đau khổ mà nó
gây ra đã tạo nên một sự thức tỉnh hàng loạt về các vấn đề rối loạn gia đình
trong xã hội.
Để tôi giải
thích.
A. Mô hình gia đình hạt nhân, chỉ gồm cha mẹ và
con cái, không còn đại gia đình cùng chung sống, thực sự trở thành chuẩn mực
trong giai đoạn này.
Đây là một vấn đề
lớn hơn rất nhiều so với những gì mọi người nhận thức được. Khi một đứa trẻ được
nuôi dưỡng trong một cộng đồng làng xóm hoặc trong một gia đình mở rộng, đứa trẻ
đó có cảm giác thuộc về cộng đồng và có rất nhiều nguồn hỗ trợ.
Nếu cha hoặc mẹ
không cung cấp được một nguồn lực nào đó, hoặc có những quan điểm gây tổn hại,
hoặc chưa trưởng thành về mặt cảm xúc, đứa trẻ vẫn có thể tìm đến một người
chú, một người bà, hoặc một người hàng xóm để có được góc nhìn tốt hơn, để được
hỗ trợ về mặt cảm xúc, hoặc để đáp ứng một nhu cầu nào đó.
Khi đơn vị gia
đình bị cô lập, cha mẹ trở thành nguồn cung cấp duy nhất cho gần như mọi thứ
trong cuộc sống của đứa trẻ. Điều này khiến việc nuôi dạy kém chất lượng trở
nên gây tổn hại nghiêm trọng hơn rất nhiều vì không còn bất cứ điều gì có thể
giảm bớt tác động của nó.
Để mọi thứ còn tệ
hơn nữa, thế hệ Baby Boomers là thế hệ đầu tiên mà mô hình gia đình có cả hai vợ
chồng cùng đi làm trở nên phổ biến. Kết quả của phong trào đòi quyền cho phụ nữ
là phụ nữ thuộc thế hệ Baby Boomers cũng tham gia lao động, nhưng đồng thời vẫn
bị kỳ vọng phải đảm nhận toàn bộ công việc nội trợ, bao gồm cả việc nuôi dạy
con cái. Nhân tiện, quá trình chuyển đổi sang một sự sắp xếp mới giữa nam và nữ
này đã và vẫn đang là một thảm họa hoàn toàn.
Điều đó dẫn đến
những người mẹ bị quá tải đến cực độ, những người không thể vừa làm mọi thứ vừa
trở thành mọi thứ cho tất cả mọi người. Trong khi đó, những người cha thuộc thế
hệ Baby Boomers là những người đầu tiên rơi vào trải nghiệm hiện đại của nam giới:
không còn thực sự có một vai trò riêng biệt rõ ràng nữa. Kết quả là nhiều người
cha thuộc thế hệ này không thực sự nhận trách nhiệm đối với đời sống gia đình,
bao gồm cả việc nuôi dạy con cái. Thay vào đó, họ hành xử giống như những người
thỉnh thoảng trông trẻ cho chính con của mình. Con cái của họ phải gánh chịu hậu
quả của tất cả những điều đó.
Ngoài ra, tỷ lệ
ly hôn tăng vọt, khiến cha mẹ càng ít có khả năng nuôi dạy con tốt hơn.
Không chỉ vậy,
đây còn là thời kỳ của nỗi sợ người lạ. Đừng quên rằng đây là giai đoạn truyền
thông tạo nên một cơn cuồng loạn tập thể, biến khu phố từ một không gian cộng đồng
an toàn thành một nguồn đe dọa đáng sợ lần đầu tiên trong lịch sử hiện đại. Vì
thế, trẻ em bị tách khỏi cộng đồng.
Do tất cả những
yếu tố này, những đứa trẻ thuộc thế hệ Millennials và Gen Z lớn lên với rất ít
nguồn hỗ trợ. Thực sự là rất ít. Chúng mất đi quyền tiếp cận với nhiều nguồn lực
cảm xúc, nguồn lực xây dựng lòng tự trọng và những nguồn lực đáp ứng nhu cầu mà
các thế hệ trước từng có và xem đó là điều hiển nhiên đến mức thậm chí không nhận
ra tầm quan trọng của chúng. Rất nhiều đứa trẻ trong thời kỳ đó đã trải qua sự
bỏ bê.
Điều tệ nhất là
cha mẹ của chúng lại không xem bản thân mình là những người bỏ bê con cái, miễn
là những nhu cầu cơ bản như thức ăn, nước uống, quần áo, đồ chơi và một mái nhà
được đáp ứng. Đó là thời kỳ của những đứa trẻ tự xoay xở một mình sau giờ học.
B. Cách nuôi dạy con của thế hệ Baby Boomers là
một cơn ác mộng về mặt cảm xúc.
Thế hệ Baby
Boomers được nuôi dưỡng bởi một thế hệ đã bị đóng băng cảm xúc do khủng hoảng
kinh tế và chiến tranh. Họ không được lớn lên với bất kỳ sự hiểu biết nào về cảm
xúc. Vì thế, nhiều người trong số họ đã không thể thiết lập sự kết nối cảm xúc
thực sự với con cái mình. Nhiều người không thể giúp con điều hòa cảm xúc và
cũng không thể đồng điều hòa cảm xúc cùng con. Nhiều người còn mang theo sự bỏ
bê cảm xúc nghiêm trọng và cả sự lạm dụng cảm xúc từ thời thơ ấu của chính họ
vào cách nuôi dạy con cái.
Trong khi cha mẹ
của họ thường là những người khép kín về cảm xúc và nuôi dạy con bằng kiểu độc
đoán đơn giản và trực diện, thì nhiều người thuộc thế hệ Baby Boomers lại đẩy
con lắc sang hướng ngược lại, trở nên quá buông lỏng, đồng thời sử dụng vô số
hình thức phủ nhận cảm xúc. Khi con cái bày tỏ cảm xúc và nhận thức của mình,
những cảm xúc và nhận thức đó lập tức bị bác bỏ. Thực tại của đứa trẻ liên tục
bị phủ nhận. Đây là một trải nghiệm thao túng tâm lý khiến đứa trẻ dần đánh mất
cảm giác về giá trị bản thân và cả nhận thức về thực tại.
Ngoài ra, nhiều
gia đình thuộc thế hệ Baby Boomers còn thực hành điều được gọi là “sự hòa thuận
giả tạo”. Họ duy trì hình ảnh bề ngoài của một gia đình hạnh phúc nhưng từ chối
giải quyết những vấn đề cảm xúc hoặc các xung đột tồn tại bên dưới. Bản thân đời
sống gia đình đã trở thành một hình thức thao túng tâm lý.
Có một điều rất
quan trọng cần hiểu là thế hệ Baby Boomers nhìn nhận cha mẹ của họ như những
người đã làm hết sức mình trong những hoàn cảnh khủng khiếp mà họ phải cố gắng
sinh tồn. Họ nhìn cha mẹ như những con người bị thế giới làm tổn thương và
không còn đủ khả năng để làm cha mẹ một cách tốt đẹp. Đồng thời, họ chứng kiến
cha mẹ mình hy sinh lợi ích cá nhân vì gia đình.
Trái ngược với
điều đó, thế hệ Baby Boomers trưởng thành và sống trong một thời kỳ thịnh vượng
đặc biệt, một thời kỳ được xem là những năm tháng tốt đẹp. Những người thuộc thế
hệ Millennials và các thế hệ trẻ hơn lại nhìn thế hệ Baby Boomers như những người
có mọi điều kiện thuận lợi đứng về phía mình, những người được thế giới hỗ trợ
và ưu ái.
Thế hệ Baby
Boomers thực sự rất tập trung vào việc thỏa mãn bản thân và chủ nghĩa cá nhân.
Đó là một xu hướng rất lớn vào thời điểm đó. Họ theo đuổi thành công cá nhân và
giá trị bản thân thông qua sự nghiệp. Họ chấm dứt hôn nhân vì muốn tìm kiếm hạnh
phúc riêng của mình. Con cái được kỳ vọng sẽ góp phần làm tăng hạnh phúc của họ.
Chính vì vậy,
cách nuôi dạy con không tốt mà thế hệ Baby Boomers thể hiện không được nhìn nhận
như việc họ đã cố gắng hết sức mình. Nó không được nhìn nhận như việc họ không
có khả năng làm tốt hơn. Thay vào đó, nó được nhìn nhận theo kiểu: “Ồ, họ có khả
năng đấy, nhưng họ quá ích kỷ để làm.”
Vì lý do đó,
trái ngược với cảm nhận của cha mẹ họ trước đây, những tổn thương mà thế hệ
Millennials và các thế hệ trẻ hơn phải chịu dưới sự nuôi dạy của thế hệ Baby
Boomers được cảm nhận như một điều không cần thiết và mang tính cá nhân sâu sắc.
Các thế hệ trẻ nhìn thời đại Baby Boomers như một sự phản bội và là sự sụp đổ của
hệ thống hỗ trợ đa thế hệ vốn là nền tảng cơ bản của loài người.
Nói một cách nhẹ
nhàng, họ nhìn thấy một thế hệ đã được hưởng lợi từ những hy sinh của cha mẹ
mình, lớn lên với những mối liên kết cộng đồng mạnh mẽ trong một hệ thống được
thiết kế để bảo đảm thành công cho họ, nhưng sau khi nắm quyền kiểm soát thì lại
tháo dỡ toàn bộ hệ thống đó.
Họ xây dựng một
thế giới chỉ phục vụ cho chính mình và được sắp đặt theo cách bất lợi cho con
cái của họ. Họ từ chối cung cấp một cấu trúc xã hội bảo đảm hạnh phúc và thành
công trong cuộc sống cho chính con cái mình. Họ loại bỏ những nguồn hỗ trợ và mạng
lưới an toàn vốn dành cho con cái của mình. Họ tạo ra những cuộc khủng hoảng
toàn cầu liên tục.
Trong khi đó, họ
vẫn khẳng định rằng mình đã làm hết sức có thể, đồng thời phán xét những đứa
con đã trưởng thành của mình vì gặp khó khăn khi phải sống trong sự thiếu vắng
tất cả những điều từng giúp chính thế hệ Baby Boomers thành công.
C. Trong những năm 1980, quan điểm về việc nuôi
dạy con cái bắt đầu thay đổi.
Thế hệ Baby
Boomers nhận ra rằng một số phương pháp nuôi dạy đau đớn mà họ từng trải qua
chính là nguyên nhân khiến họ bị tổn thương. Và thay vì chỉ lặp lại cách mà cha
mẹ đã nuôi dạy họ, họ bắt đầu tìm kiếm những lựa chọn khác. Nhưng họ cũng bắt đầu
đẩy con lắc sang hướng ngược lại. Đó là thời đại của những cuốn sách dạy làm
cha mẹ.
Đáng tiếc thay,
cũng chính trong thời kỳ đó, một số lý thuyết nuôi dạy con gây tổn hại nhất đã
ra đời và được áp dụng rộng rãi, chẳng hạn như quyền lực của cha mẹ, phương pháp
luyện ngủ, phương pháp để trẻ khóc đến khi tự nín, hình thức kỷ luật bằng thể
xác, kiểu nuôi dạy trực thăng kiểm soát quá mức, phong trào “ai cũng có cúp”,
và quan niệm đề cao sự tự lập từ quá sớm. Những lý thuyết nuôi dạy gây hại được
xuất bản thành sách còn gia tăng mạnh hơn nữa trong thập niên 1990. Những
phương pháp này đã tạo ra vô số tổn thương tâm lý và chấn thương phát triển.
Thế hệ Baby
Boomers nuôi dạy con cái bằng một sự pha trộn giữa việc vô thức lặp lại chính
xác những gì cha mẹ họ đã làm và đồng thời làm hoàn toàn ngược lại với cha mẹ
mình. Không may là thay vì dẫn đến việc nuôi dạy có ý thức, điều đó lại tạo ra
một thế hệ bị tổn thương sâu sắc với vô số nhu cầu không được đáp ứng.
D. Do cách mà các thế hệ trẻ lớn lên, không còn
bất kỳ lớp đệm nào để giảm nhẹ những rối loạn của cha mẹ nữa.
Khi bước vào tuổi
trưởng thành, họ thực sự gặp phải rất nhiều vấn đề. Mọi vấn đề đều có nguyên
nhân. Và khi nhận ra nguyên nhân của những vấn đề mình đang gặp phải, họ bắt đầu
thấy rõ những mối liên hệ trực tiếp giữa cách nuôi dạy con cái và những kết quả
tiêu cực mà họ đang trải nghiệm. Điều này hoàn toàn phá vỡ quan niệm rằng trẻ
em sẽ tự nhiên phát triển tốt miễn là các nhu cầu cơ bản của chúng được đáp ứng.
Thay vào đó, nó
vẽ nên một bức tranh rất thực tế rằng mọi điều cha mẹ làm hoặc không làm đều ảnh
hưởng đến đứa trẻ. Nó định hình toàn bộ trải nghiệm của chúng khi trưởng thành.
Họ đang sống mỗi ngày trong những hậu quả đau đớn, thậm chí có khi là thảm họa,
của quá trình nuôi dạy đó.
Khi nhìn thấy những
thực tế đau lòng về cách mình đã được nuôi dưỡng, họ bắt đầu nhận ra rằng lý do
đằng sau việc sinh con ngay từ đầu thực sự rất quan trọng.
“Trời ơi, có lẽ
việc có con không phải là điều đương nhiên phải làm.”
Và rồi họ bắt đầu
tự hỏi tại sao mình muốn có con.
Rất nhiều người
không hề thích câu trả lời mà họ tìm thấy cho chính câu hỏi đó. Chỉ cần nói rằng,
toàn bộ quá trình thức tỉnh về tác động của việc nuôi dạy con cái đã khiến vai
trò làm cha mẹ trở thành một trách nhiệm nghiêm túc hơn rất nhiều. Đó là điều
phải được thực hiện với mức độ nhận thức và chủ đích rất cao. Đó là điều đòi hỏi
bạn phải đặt ra tiêu chuẩn cho chính mình. Nhưng tiêu chuẩn đó không hề dễ đạt
được.
Và nếu bạn không
thể đạt được nó - điều mà phần lớn mọi người ngày nay không làm được - thì bạn
không nên có con.
Họ nhận ra có một
khoảng cách rất lớn giữa quan niệm xã hội rằng tuổi thơ là một trải nghiệm vô
tư tuyệt vời và rằng hạnh phúc đến từ việc có một gia đình, với thực tế mà họ
đã trải nghiệm. Điều này sẽ khiến bạn phải nghiêm túc suy nghĩ lại về việc có
nên sinh con hay không.
Ngoài ra, với sự
tiếp cận dễ dàng hơn đối với các biện pháp tránh thai, thế hệ Millennials cũng
là thế hệ đầu tiên thực sự thức tỉnh trước thực tế rằng việc có con là một sự lựa
chọn, như tôi đã nói, chứ không phải là điều mặc nhiên phải xảy ra. Và vì vậy,
đối với nhiều người, câu trả lời là “không”, ít nhất là cho đến khi đáp ứng được
những điều kiện nhất định, bởi tất cả những gì tôi vừa trình bày.
Được rồi, tin
hay không thì tùy, nhưng tất cả những điều đó mới chỉ là nguyên nhân thứ nhất.
Nguyên
nhân thứ hai là khoảng
cách quá lớn giữa công thức hạnh phúc mà xã hội quảng bá và thực tế mà mọi người
trực tiếp trải nghiệm.
Các xã hội được
xây dựng dựa trên những ý tưởng tập thể mà mọi người cùng tin tưởng. Và một
trong những ý tưởng đó là hạnh phúc đến từ một công thức nhất định.
Công thức ấy là:
học đại học, kiếm được công việc tốt, kết hôn, mua nhà và cùng nhau sinh con.
Thế hệ
Millennials đã lớn lên trong sự nhồi nhét tư tưởng về công thức này. Nhưng khi
họ làm theo nó, công thức đó đã thất bại. Họ đã bị dẫn dắt sai hướng. Thế hệ
Millennials bị lừa tin vào điều đó rồi bị đẩy vào đời khi còn trẻ trong một thế
giới mà gần như mọi yếu tố đều chống lại họ. Giống như việc thả một con chim
non ra khỏi tổ ngay giữa một trận mưa đá kéo dài suốt phần đời còn lại của nó.
Chi phí học đại
học cao đến mức họ phải vay những khoản nợ sinh viên khổng lồ. Họ được bảo rằng
khi có việc làm, mọi thứ sẽ sớm được giải quyết. Nhưng ngay cả khi có bằng cấp,
họ vẫn không tìm được việc làm vì chu kỳ thăng tiến nghề nghiệp tự nhiên đã bị
tắc nghẽn do nhiều người không thể nghỉ hưu đúng lúc. Rất ít người thực sự có
khả năng nghỉ hưu. Những người có trình độ quá cao buộc phải nhận những công việc
mà trước đây họ thậm chí sẽ không bao giờ cân nhắc.
Trong khi thế hệ
Millennials hiện phải cạnh tranh trên thị trường lao động với chính thế hệ cha
mẹ và thậm chí cả thế hệ ông bà của mình, thì không những họ không thể cạnh
tranh với hồ sơ kinh nghiệm của những thế hệ đó, mà ngay từ đầu họ còn không được
chuẩn bị để cạnh tranh. Vì thế, họ bước vào một môi trường cạnh tranh khốc liệt
mà bản thân hoàn toàn chưa sẵn sàng đối mặt. Họ mang trên vai những khoản nợ
không thể trả hết, bằng cấp không giúp ích được bao nhiêu, và cuối cùng phải
quay lại những công việc cấp thấp mà họ từng làm trước hoặc trong thời gian học
đại học.
Vấn đề ở chỗ,
đây là những công việc mà bạn phải làm hai việc cùng lúc chỉ để đủ trang trải
hóa đơn, bởi chi phí sinh hoạt cũng đã tăng vọt. Họ buộc phải chấp nhận thực tế
rằng rất có thể mình sẽ không bao giờ có khả năng sở hữu một ngôi nhà riêng.
Giấc mơ cổ tích
kiểu Disney mà họ được dạy là thực tế - rằng bạn gặp một người, yêu người đó và
rồi sống hạnh phúc mãi mãi về sau - bắt đầu sụp đổ. Thay vào đó, nó phơi bày một
thực tế rằng các mối quan hệ thực sự rất khó khăn, thậm chí phần lớn thời gian
là gần như không thể duy trì. Và rất nhiều lần, chúng thất bại. Ý tôi là, rất rất
nhiều lần chúng thất bại. Và khi cộng tất cả những điều đó lại với nhau, chất
lượng đời sống gia đình trở nên rất tệ.
Nhiều người nhận
ra rằng họ không đủ khả năng tài chính để có con. Và ngay cả nếu có thể, mức độ
căng thẳng mà việc nuôi con tạo thêm lên tình trạng căng thẳng mãn tính vốn đã
tồn tại trong cuộc sống của họ sẽ khiến chất lượng cuộc sống vốn đã thấp càng
trở nên tệ hơn chứ không tốt hơn.
Còn thế hệ Gen Z
thì ngay từ đầu đã không hề có những ảo tưởng đó. Họ lớn lên trong chính những
thực tế khắc nghiệt mà Millennials phải mất thời gian mới khám phá ra. Nhiều
người trong số họ được chứng kiến tận mắt cảnh hôn nhân tan vỡ, đời sống gia
đình đầy tiêu cực và một xã hội vận hành theo cách bất lợi cho họ. Vì vậy, họ
đi đến những kết luận tương tự ngay từ khi còn học cấp hai. Đây chính là lúc yếu
tố rào cản kinh tế đối với việc sinh con xuất hiện.
Nhân tiện, việc
có con đơn giản là trở thành một gánh nặng quá lớn về tài chính và năng lượng
trong bối cảnh quá nhiều người vốn đã đang kiệt sức vì áp lực tiền bạc và những
phức tạp của cuộc sống. Tất cả những điều này dẫn đến một kết luận rằng khẩu hiệu
xã hội đã không còn đúng nữa.
Thực tế hiện ra
là: khoan đã, có thể chất lượng cuộc sống thực sự bị ảnh hưởng tiêu cực bởi việc
có con, không chỉ đối với cha mẹ mà còn đối với chính đứa trẻ.
Thứ
ba,
cần cả một cộng đồng để nuôi dạy một đứa
trẻ.
Nhiều người thuộc
thế hệ trẻ hiểu điều này. Không phải tất cả, nhưng một số người hiểu. Vấn đề là
cộng đồng đó không còn nữa.
Bản chất của thế
giới hiện đại là sau khi rất nhiều người thuộc thế hệ Baby Boomers rời xa gia
đình để theo đuổi mục tiêu cá nhân, rồi đến lượt nhiều người thuộc các thế hệ
trẻ phải rời xa cha mẹ vì giá nhà quá cao hoặc vì công việc, kết quả là rất nhiều
người trưởng thành ngày nay sống cách xa đại gia đình của mình và thường cũng sống
xa bạn bè.
Trong một thế giới
mà hầu như ai cũng phải tham gia lực lượng lao động và rất nhiều người chỉ đang
cố gắng tồn tại, mọi người đều quá căng thẳng và quá bận rộn với cuộc sống
riêng để có thể hỗ trợ nhau trong việc chăm sóc trẻ em. Tinh thần cộng đồng đã
suy giảm trong một thời đại mà con người chủ yếu kết nối với nhau qua mạng.
Ở các thế hệ trước
thời Baby Boomers, cha mẹ thường xem việc nuôi dạy con cháu là trách nhiệm gia
đình kéo dài suốt đời. Nhưng những người thuộc thế hệ Millennials và Gen Z thường
nhận thấy cha mẹ mình có thái độ kiểu như: “Tôi đã hoàn thành phần trách nhiệm
làm cha mẹ của mình rồi.” Họ quan tâm đến việc du lịch hoặc tận hưởng tuổi hưu
hơn là góp phần xây dựng “ngôi làng” cần thiết để nuôi dưỡng thế hệ tiếp theo.
Các thế hệ lớn
tuổi hoặc đã rút lui khỏi vai trò ông bà, hoặc chỉ tham gia rất hạn chế. Vì vậy,
việc nuôi dạy con trong thế giới ngày nay đồng nghĩa với việc chỉ có cha và mẹ
tự xoay xở. Và đó là một vấn đề lớn.
Tệ hơn nữa, do
thực tế của các mối quan hệ hiện đại, tỷ lệ ly hôn cao và các gia đình tan vỡ
ngày càng phổ biến. Nuôi con đơn thân hiện nay đã trở thành điều quá quen thuộc.
Có quá ít nguồn lực và quá ít sự hỗ trợ để việc sinh con trở thành một lựa chọn
hợp lý đối với nhiều người.
Thứ
tư,
liên quan trực tiếp đến điểm vừa rồi,
trong thế giới ngày nay, phụ nữ không cảm thấy việc sinh con mang lại lợi ích
cho họ.
Ngược lại, họ
xem đó là một bất lợi nghiêm trọng.
Mặc dù cả nam giới
lẫn phụ nữ đều cho rằng con cái sẽ làm tăng mức độ căng thẳng trong cuộc sống,
nhưng khi nói đến việc có con, có một sự khác biệt rất lớn giữa lộ trình sự
nghiệp của phụ nữ và nam giới. Hiện tượng này được gọi là “hình phạt làm cha mẹ”.
Nhân tiện, chính tôi cũng đã trải nghiệm điều này.
Việc có con khiến
phụ nữ bị nhìn nhận là kém đáng tin cậy hơn, kém tận tâm hơn, kém năng lực hơn,
ít cam kết hơn và ít sẵn sàng hơn đối với công việc. Điều này thường dẫn đến ít
cơ hội hơn và mức lương thấp hơn.
Và thực tế là, với
tư cách một người phụ nữ, bạn được kỳ vọng phải nuôi con như thể mình không đi
làm, đồng thời phải làm việc như thể mình không có con. Đây là một tình thế tiến
thoái lưỡng nan khiến câu nói cũ rằng “bạn có thể làm cả hai vì bạn có thể làm
mọi thứ” hoàn toàn sụp đổ đối với phụ nữ.
Thay vào đó, nó
giống như một lựa chọn bắt buộc giữa cái này hoặc cái kia, bởi bạn không thể
làm cả hai ở mức độ tối đa cần thiết để thành công trong bất kỳ lĩnh vực nào. Cả
hai đều là những trách nhiệm áp lực cao, rủi ro cao và đòi hỏi khối lượng lao động
khổng lồ.
Trong khi đó,
nam giới lại thường được nhìn nhận là đáng tin cậy hơn, có trách nhiệm hơn và
có nhiều động lực làm việc hơn khi họ có con. Điều này dẫn đến nhiều cơ hội hơn
và mức thu nhập cao hơn cho nam giới sau khi trở thành cha.
Phụ nữ có con
không được xem là hình mẫu lao động lý tưởng và phải chịu nhiều hệ quả vì điều
đó. Phụ nữ có con cũng thường bị đánh giá là kém hấp dẫn hơn trong mắt nam giới.
Giá trị của họ trong nhận thức xã hội bị giảm sút. Thay vì việc làm mẹ khiến một
người phụ nữ được tôn trọng hơn, nó lại khiến họ bị xem là kém giá trị hơn
trong xã hội.
Điều này càng trở
nên nghiêm trọng hơn bởi thực tế rằng trong một xã hội không còn “ngôi làng cộng
đồng”, một phụ nữ đi làm sẽ phải tự chi trả cho dịch vụ giữ trẻ. Và đó lại là một
vấn đề lớn. Chi phí giữ trẻ cực kỳ đắt đỏ. Một gia đình trung bình phải dành một
tỷ lệ đáng kinh ngạc trong thu nhập của mình cho việc chăm sóc trẻ. Nó cũng đòi
hỏi thời gian làm việc linh hoạt từ phía cha mẹ, điều mà đa số công việc không
cho phép.
Bất kể phong
trào nữ quyền đã thay đổi điều gì, xã hội vẫn xem phụ nữ là người chăm sóc
chính cho con cái. Vì thế, khi con bị bệnh hoặc trường học nghỉ lễ, gánh nặng
đó gần như luôn đổ lên vai người mẹ trước tiên. Điều này buộc nhiều phụ nữ phải
chuyển sang làm bán thời gian hoặc nhận những vị trí ít cạnh tranh hơn để có thể
xoay xở với công việc nhà và các trách nhiệm gia đình.
Quả thực đây
không phải là một điều khuyến khích người ta sinh con, đúng không?
Thứ
năm,
sự bi quan về tương lai.
Hiện tại, tương
lai không có vẻ quá sáng sủa. Một lượng lớn người quyết định không sinh con vì
họ không muốn đưa con mình vào một thế giới đang ngày càng xấu đi.
Một thế giới
đang chìm sâu hơn vào khủng hoảng khí hậu, ô nhiễm môi trường, các đại dịch, bất
ổn chính trị, một chính phủ và hệ thống mà họ không thể tin tưởng, một hệ thống
dường như chống lại người dân thay vì phục vụ người dân, lạm phát tài chính,
khó khăn kinh tế, khủng hoảng kinh tế và cả nguy cơ chiến tranh luôn hiện hữu.
Thứ
sáu,
các mối quan hệ hiện đại đang gặp khủng
hoảng.
Con đường dẫn đến
một mối quan hệ lâu dài - điều thường dẫn đến việc sinh con - ngày nay đầy biến
động. Tỷ lệ kết hôn cũng như tỷ lệ duy trì hôn nhân đang ở mức thấp kỷ lục. Mọi
người đang thực sự gặp khó khăn trong việc xây dựng những mối quan hệ đủ an toàn
và ổn định để dẫn đến quyết định sinh con.
Có rất nhiều
nguyên nhân góp phần tạo nên điều này, nhưng việc trì hoãn sinh con cho đến khi
tìm được đúng người có thể khiến nhiều người bỏ lỡ khoảng thời gian thích hợp để
có con. Khoảng thời gian đó được xác định bởi các yếu tố tâm lý, cảm xúc, sinh
học và hoàn cảnh cuộc sống.
Ngoài ra còn có
rất nhiều người đã từng có con, trải qua sự đổ vỡ trong mối quan hệ và sau đó tự
nhủ: “Không bao giờ nữa.”
Bởi vì họ đã trực
tiếp trải nghiệm hậu quả mà sự đổ vỡ đó gây ra đối với việc nuôi dạy con cái.
Như bạn có thể
thấy, việc không sinh con đang trở thành một xu hướng ngày càng phổ biến trên
toàn cầu, được thúc đẩy bởi những nguyên nhân rất thực tế.
Và giờ đây, bạn
đã biết những động lực chính đứng đằng sau hiện tượng này.
Chúc bạn có một
tuần tốt lành.
Link gốc của bài
viết
https://www.youtube.com/watch?v=6DSeIMIsQpU
Nếu bạn muốn hiểu
sâu hơn về các khái niệm trong cuộc trò chuyện này, bạn có thể đọc thêm các bài
sau:
- Gia
đình (Sự thật về gia đình)
- Ôi
không! "Gia đình" không có cùng một nghĩa với tất cả mọi người
- Thế hệ
Millennials có vấn đề gì? Giải mã về thế hệ Y
- Chữa
lành vết thương của thế hệ Millennials - Giúp đỡ thế hệ Y
https://www.facebook.com/Go-With-The-Earth-110516891516479/
Xem toàn bộ thư viện bài viết
https://gowiththeearth.blogspot.com/2021/10/tat-ca-sach-co-tai-blogs.html