Chương
5
Ký Ức Trỗi Dậy
Một ngày nọ, trước khi chúng tôi bắt đầu buổi trị liệu, tôi gợi ý rằng chúng tôi hãy bước vào khoảng thời gian của thập niên 1940 để xem liệu ở đó có điều gì không. Chúng tôi đã biết rằng cô từng chết với tên Sharon ở Colorado vào cuối những năm 1870, rồi tái sinh thành Katie trong kiếp sống hiện tại vào năm 1960. Giữa hai mốc đó là một khoảng trống gần một trăm năm. Rất có thể chúng tôi sẽ tìm thấy một kiếp sống khác trong khoảng ấy. Sẽ rất thú vị nếu đó chính là kiếp sống ở Nhật Bản. Cho đến lúc này, tôi chưa bao giờ dẫn dắt cô đến một mốc thời gian cụ thể nào. Tôi để cho tiềm thức của cô tự quyết định, để cô cảm thấy mình đang kiểm soát được tình huống. Tôi nói với cô rằng tôi sẽ chọn một năm thậm chí còn không gần với thời kỳ chiến tranh, và xem chúng tôi sẽ tìm thấy gì. Nghe có vẻ an toàn, nên cô đồng ý.
Sau khi từ
khóa đưa cô vào trạng thái thôi miên sâu quen thuộc, tôi yêu cầu cô quay về một
ngày hạnh phúc trong năm 1935. Đây là một năm trung lập,
trước khi Thế chiến thứ hai bắt đầu. Nếu lúc đó cô chưa sống, cô sẽ nói ra điều
đó. Có thể cô đang ở nơi nghỉ ngơi của linh hồn, hoặc tại một trong những “trường
học” trên cõi trung giới. (Những trạng thái tồn tại này được tôi khám phá trong
cuốn Conversations with a Spirit.) Tôi sẽ không hề tác động đến việc cô ở đâu.
Tôi đếm lùi
cho cô và hỏi cô đang làm gì. Đột nhiên, cô trở thành một người đàn ông khoảng
cuối tuổi năm mươi, đang làm gốm bên một lò nung ở phía sau nhà. Ông sống trên
một nông trại nhỏ, nằm cách Hiroshima khoảng 20 dặm về phía nam, tại Nippon
(tên gọi Nhật Bản bằng tiếng Nhật).
Tôi không
thể nói là mình ngạc nhiên khi thấy ông ở đó. Ký ức này đã quá mạnh mẽ và đầy cảm
xúc đối với Katie, nên tôi tin rằng nó hẳn phải đến từ một kiếp sống trước. Việc
này được xác nhận khiến tôi rất hài lòng.
Brad
Steiger, tác giả nổi tiếng và là chuyên gia về luân hồi, từng đề nghị rằng
không nên tiến hành nghiên cứu trong lúc đang làm việc với một đối tượng, vì có
một khả năng rất nhỏ là kiến thức có thể được truyền qua cảm nhận ngoại cảm. Vì
vậy, tôi đã không nghiên cứu gì về kiếp sống Nhật Bản này cho đến nhiều tháng
sau khi chúng tôi hoàn tất các buổi trị liệu. Tôi nghĩ mình sẽ phải quay về “vũ
khí” quen thuộc của mình: sách. Chúng chưa từng làm tôi thất vọng. Nghiên cứu
qua sách tuy có giá trị nhưng chậm. Luôn luôn có ích nếu bạn tìm được ai đó am
hiểu về chủ đề bạn đang nghiên cứu. Có nghững sinh viên nước ngoài ở trường cao
đẳng gần đó, nhưng tôi nghĩ có lẽ họ cũng không biết nhiều hơn giới trẻ ở đất
nước chúng ta về điều kiện ở Nhật Bản thời chiến. Nhờ một sự may mắn hiếm có,
tôi tình cờ gặp một phụ nữ từng sống ở Nhật Bản suốt năm năm và đã nghiên cứu lịch
sử cũng như phong tục của họ. Tôi vô cùng biết ơn sự giúp đỡ của bà. Tôi đã lồng
ghép những phát hiện của bà, cũng như nghiên cứu của chính mình, vào những chỗ
phù hợp trong câu chuyện. Tên của người đàn ông Nhật Bản này rất khó để tôi ghi
lại theo cách phát âm, vì âm thanh đó xa lạ với tai tôi. Khi Katie nghe lại
băng ghi âm, cô nói rằng tên ông là Nogorigatu.
Người đọc sẽ
nhận thấy đôi lúc có những lỗi ngữ pháp tưởng chừng như sai, những lỗi mà bình
thường Katie sẽ không bao giờ mắc phải. Điều này là do lối diễn đạt của người
đàn ông Nhật Bản khi được dịch trong tâm trí.
Tôi bắt đầu
xác lập danh tính. Tôi hỏi liệu nông trại của ông có ở xa biển không. Ông trả lời:
“Trên một hòn đảo thì làm sao mà tránh xa biển được?” Nông trại gồm ba thửa ruộng
nằm trong một thung lũng. Thị trấn gần nhất là một làng chài nhỏ bên vịnh. Ông
không thể nhìn thấy biển vì nông trại nằm giữa các dãy núi. Ông có hai người
con trai, một người 33 tuổi và một người 29 tuổi, sống gần đó cùng gia đình của
họ và giúp ông cùng vợ trồng lúa - nguồn sống chính của gia đình. Tôi hỏi liệu
ông trồng lúa để bán hay không. Giọng Katie bỗng mang một âm sắc lạ. Cô nói ngắn
gọn, dứt khoát.
K: Không, để
dùng cho gia đình. Đôi khi chúng tôi đổi lấy thức ăn khác.
D: Ngoài
lúa ra thì ông còn ăn gì nữa?
K: Cá từ
con suối. Giá đỗ. Đôi khi có măng, củ năng và ớt. Chúng tôi trồng chúng trong
vườn.
D: Vậy thì
ông không cần mua nhiều thứ.
K: Đúng vậy,
nhu cầu của chúng tôi rất ít.
D: Ông có
nuôi gia súc hay vật nuôi nào không?
K: Một ít
dê và gà.
D: Khi trồng
lúa, ông có cần dùng động vật để làm đất không?
K: Con trai
tôi có hai con bò dùng để kéo cày. Nó giữ chúng ở đó, đúng vậy.
Tôi muốn
tìm hiểu về quy trình trồng lúa. Tôi từng sống hai năm ở quần đảo Philippines
và luôn thắc mắc vì sao ruộng lúa lại ngập nước. Tôi chắc rằng Katie cũng không
biết nhiều hơn tôi về chuyện này.
K: Nước giữ
cho những thứ khác không mọc lên. Lúa mọc được trong nước, còn cỏ dại thì
không.
Nghe rất hợp
lý.
D: Khi đến
lúc thu hoạch lúa, ông làm gì?
K: Trước
tiên chúng tôi tháo nước khỏi ruộng. Cả gia đình đều giúp. Chúng tôi ra đồng, gặt
lúa rồi mang về phơi khô.
D: Việc
tháo nước có khó không?
K: Chúng
tôi có các cổng nước.
Tôi hỏi về
ngôi nhà của ông.
K: Nhà khá
lớn, có bảy phòng. Là một trong những ngôi nhà lớn hơn trong vùng. Nhà quay về
hướng nam, mái màu xám với các đầu mái kiểu chùa. Chúng tôi có phòng ngủ, một
phòng cho vợ chồng tôi. Và sau đó chúng tôi có những căn phòng nơi các con trai
của tôi ... đó là các con trai của tôi. Rồi có một phòng có bếp than. Và có một
phòng giống như hiên nhà, cửa trượt, nên có thể mở hoặc đóng. Rồi phía sau còn
một phòng để cất đồ. Tôi để các bình gốm và nhiều thứ khác ở đó… đó cũng là nơi
chúng tôi cất gạo và thực phẩm.
Tôi hỏi về
cách ăn uống và đồ đạc trong nhà.
K: Chúng
tôi có một cái bàn thấp, mọi người ngồi xung quanh, mỗi người một bên. Và có đệm
để quỳ. Đôi khi ngồi xếp bằng, đôi khi quỳ - tùy theo sự thoải mái cá nhân. Đôi
khi phần trên của chảo được mang ra đặt lên bàn. Đôi khi chúng tôi chỉ múc thức
ăn vào bát rồi ngồi xuống ăn. Tùy vào mức độ trang trọng hay thân mật của dịp
đó.
D: Khi trời
lạnh, ông sưởi ấm ngôi nhà như thế nào?
K: Chúng
tôi có những… lò nhỏ, những lò than nhỏ để dùng.
D: Ông đặt
chúng trong từng phòng à?
K: Đúng vậy,
trong những phòng chúng tôi đang ở lúc đó. Thường thì như vậy là đủ.
D: Còn khi
muốn tắm thì sao?
K: Chúng
tôi dùng một cái bồn lớn, rồi đổ nước đã được đun nóng vào.
D: Ông được
xem là giàu hay nghèo?
K: Chúng
tôi thấy mãn nguyện.
Nghiên cứu
cho thấy rất ít nông trại ở Nhật Bản có diện tích lớn hơn vài mẫu đất. Vì đất
có thể tưới tiêu rất ít, nên từng mảnh đều được canh tác và sử dụng. Vào thời kỳ
đó cũng rất ít gia súc trong nông nghiệp; phần lớn lao động được thực hiện bằng
tay. Vì vậy, Nogorigatu dường như khá giả hơn mức trung bình của một nông dân.
Điều này cũng thể hiện rõ qua mô tả ngôi nhà của ông. Hầu hết nông dân xây nhà
với mái phủ cỏ; trong khi nhà của ông có đầu mái kiểu chùa và bảy phòng. Một
chi tiết thú vị là việc ngôi nhà quay về hướng nam - người Nhật không bao giờ
xây cửa chính quay về hướng bắc vì họ tin rằng điều đó sẽ mời gọi “tà khí”.
Phòng có bếp than chính là khu vực bếp, nơi bếp được xây cố định dưới sàn theo
dạng hố. Những lò than nhỏ hơn được lấy than từ bếp lớn này rồi mang đến các
phòng khác. Phòng giống như hiên với cửa trượt được dùng để thông gió, cho
không khí vào mùa hè và chặn gió vào mùa đông. Tôi được cho biết rằng mô tả về
ngôi nhà này là hoàn toàn chính xác.
Tôi hỏi về
loại quần áo ông đang mặc. Ông nói ông mặc một bộ gi (theo cách phát âm), là một
loại áo quấn và thắt bằng đai, mặc cùng quần lửng. Ông mặc loại này khi làm việc,
và mặc kimono khi ăn mặc chỉnh tề. Tôi phát hiện rằng bộ gi này chính là loại
trang phục mà ở Mỹ, những người học và luyện karate thường mặc. Đây là một
trang phục rất phổ biến ở Nhật Bản, được đàn ông mặc trong sinh hoạt hằng ngày.
Kimono thì trang trọng hơn. Vì ông đang làm gốm, tôi muốn tìm hiểu thêm về việc
đó. Tất cả những chủ đề này đều là những điều tôi hoàn toàn không biết, nên tôi
tập trung đặt câu hỏi về những thứ xa lạ với mình. Trong các buổi trị liệu sau này,
rất nhiều lần tôi thấy ông đang làm việc với những thứ mà ông trìu mến gọi là
“những chiếc bình của tôi”. Lần đầu tiên tôi gặp ông, ông đang làm một chiếc
bình hoa.
K: Nó có dạng
tròn. Có tro đỏ, được nung sao cho màu sắc chảy loang xuống.
D: Vì sao ông
làm gốm?
K: Tôi bán
chúng ở thành phố. Tôi từng bán xa tới Tokyo, nhưng phần lớn là bán ở
Hiroshima. Thường là ở chợ ngoài trời. Chúng tôi có một quầy riêng của mình.
Ông nói
Hiroshima cách đó khoảng 20 dặm, và họ thường chỉ đi mỗi tháng một lần, dùng bò
kéo xe.
D: Ông có ở
lại trong thành phố cho đến khi bán hết không?
K: Thỉnh
thoảng. Có khi chỉ ở một ngày, có khi ở hai ngày. Tùy tình hình buôn bán. Tôi
thường ở nhà người anh họ. Ông ấy sống ở đó. Thường thì chỉ có tôi đi, còn các
con trai ở lại làm việc trên nông trại.
D: Vì ông
không bán lúa, vậy gốm có phải là nguồn thu duy nhất của ông không?
K: Đúng vậy.
D: Ông làm
gốm có giỏi không?
K: Theo
cách của tôi. Nhiều người nói là vậy. Đó là cuộc sống của tôi.
D: Người ta
có trả nhiều tiền cho đồ gốm của ông không?
K: Đủ để sống
thoải mái.
D: Ý tôi
là, nó có đắt không?
K: Cái đẹp
thì thường là vậy.
Tôi đang cố
gắng dò ra một con số bằng tiền Nhật - thứ mà tôi chắc chắn Katie không thể biết
một cách có ý thức. Tôi nhận thấy cách nói vòng vo, né tránh như vậy rất đặc
trưng của người Nhật.
D: Ngoài
bình gốm ra, ông còn làm gì khác không?
K: Thỉnh
thoảng tôi làm bát gốm. Như Kuu-wan-yen, đôi khi tôi làm những cái đó.
Lúc đầu tôi
tưởng ông nói “Kwannon”, tên của nữ thần từ bi. Vì vậy tôi hỏi tiếp.
D: Ông có
bao giờ làm tượng Phật nhỏ, hay tượng các vị thần không?
K: Không.
Tôi thấy không có lý do gì. Có những người khác… đó là công việc của họ. Vì sao
tôi phải can thiệp vào, khi tôi có khát vọng riêng để tạo ra những hình ảnh
này? Tôi chỉ tạo ra những gì tôi tin là đẹp.
Nếu từ đó
thật sự là Kwannon, thì câu trả lời này sẽ mâu thuẫn trực tiếp. Khi tôi đưa bản
ghi chép này cho người phụ nữ đã giúp tôi về thông tin Nhật Bản, bà nói từ đó
không phải Kwannon mà là Kuu-wan-yen. Đây là một chiếc bát đặt trên bàn thờ gia
đình, trong đó người ta để tiền hoặc thức ăn làm lễ cúng các vị thần. Bà nói rằng
hoàn toàn có khả năng ông đã làm những chiếc bát như vậy.
D: Ông làm
những hình tượng gì?
K: Những
hình bằng đất sét. Động vật, đôi khi là hoa, đôi khi là những thứ trong thiên
nhiên, như núi non.
D: Những thứ
đó bán chạy không?
K: Thường
là vậy. Tùy tâm trạng của đám đông. Tùy người ta đang tìm gì. Những hình tượng
đó thật ra là dành cho tôi. Tôi làm chúng vì vẻ đẹp của chúng. Chúng làm tôi
vui.
D: Làm gốm
có mất nhiều thời gian không?
K: Không phải
là công việc nhanh. Mọi thứ phải thật chuẩn. Nếu vội vàng, cuối cùng chỉ còn lại
những mảnh vỡ.
D: Ông lấy
màu để làm gốm từ đâu?
K: Đôi khi
từ thảo mộc, đôi khi từ bùn trong con suối. Đôi khi tôi mua, nhưng thường là tôi
tự tìm. Dùng những thứ trong tự nhiên. Sau khi phơi khô, thì nghiền thành bột.
Nghiền ra, rồi đôi khi trộn với nước, đôi khi với những thứ khác.
Đó là một ý
niệm hoàn toàn mới đối với tôi. Tôi không biết rằng người ta có thể tạo màu từ
thảo mộc.
D: Ông gọi
những loại thảo mộc cho màu đẹp nhất là gì?
K: Tôi chỉ
tìm thấy chúng thôi. Có nhiều loại khác nhau. Tôi không biết chúng tên là gì.
D: Vậy thì
phải có rất nhiều kinh nghiệm mới biết loại nào dùng được. Chúng tạo ra màu gì?
K: Đôi khi
là xanh lá, đôi khi là đỏ tươi. Có loại là xanh dương.
D: Những
màu nào ông phải mua?
K: Chủ yếu
là các màu xanh dương đậm.
D: Ông có vẽ
hoa văn lên bình không?
K: Tôi đổ
thuốc nhuộm hoặc màu xám vào trong bình rồi xoay nó. Nó chảy đến đâu thì đó là
hoa văn.
D: Vậy là
ông không vẽ hoa văn… Còn đất nước này, nó có vua hay…
K: (Ngắt lời)
Có Hoàng đế. (Tôi hỏi tên ông ấy, và có một khoảng lặng dài.) Hoàng đế là Mặt
Trời. Tôi không nhớ tên. Ai mà để ý đến chính trị chứ; nó thay đổi hoài. Chính
trị chỉ làm người ta lo lắng. Tôi sống cuộc đời mình trong bình an.
Người Nhật
tin rằng Hoàng đế là hiện thân của Thần Mặt Trời.
D: Ông có
biết nhiều tin tức về những gì đang xảy ra trên thế giới không?
K: Không.
Thế giới để tôi yên, và tôi cũng để thế giới yên.
Vậy là những
ký ức được kích hoạt của Katie là chính xác. Chúng tôi đã xác lập rằng cô thực
sự đã sống trong giai đoạn đó. Cô là một người đàn ông Nhật Bản và đã sống gần
một trong những địa điểm khét tiếng của các vụ ném bom thời chiến. Nhưng 20 dặm
có đủ gần để chịu ảnh hưởng của bom nguyên tử không? Lúc đó tôi biết rất ít về
vụ nổ hạt nhân. Sau buổi trị liệu này, tôi hỏi phản ứng của cô ra sao khi chúng
tôi đã phát hiện rằng quả thật có một người đàn ông sống ở Nhật Bản vào thời điểm
đó. Cô có ngạc nhiên không, hay ít nhiều đã đoán trước?
“Phản ứng của
tôi hả? Phải nói là lẫn lộn,” cô cười. “Trong thâm tâm, tôi có thể nghĩ: ‘Ờ,
cũng có thể.’ Nhưng tôi thật sự không muốn thừa nhận rằng điều đó là khả dĩ.
Ngay cả với cảm xúc mà chương trình tivi đã kích hoạt, tôi vẫn có thể tự nói:
‘Wow, trí tưởng tượng của bạn thật dữ dội.’ Cảm giác được xác nhận như vậy thật
sự rất lạ.”
Tôi nói:
“Có thể ông ấy đã chết vì phơi nhiễm phóng xạ khi sống ở nông trại. Nhưng điều
đó có thể xảy ra ở khoảng cách 20 dặm không?”
Cô trả lời
dứt khoát: “Không. Lúc đó tôi ở Hiroshima. Tôi biết điều đó!”
Tôi muốn
tìm hiểu thêm về người đàn ông này. Nếu ông ấy thực sự chết theo cách đó, thì
làm sao ông lại có mặt ở Hiroshima?
Vậy là, sâu
bên trong Katie, một ký ức không có lời giải thích hợp lý đã ám ảnh cô suốt khoảng
sáu tháng trước khi chúng tôi gặp nhau và bắt đầu các buổi trị liệu. Cô biết
mình là một ông già và rằng ông đang ở Hiroshima khi quả bom phát nổ. Cô biết
ông không chết ngay lập tức, mà cầm cự thêm chín ngày. Ký ức sống động nhất -
và cũng là điều ám ảnh cô nhiều nhất - là việc nghe thấy những người khác đang
chết. Điều đó khơi dậy cảm giác bức bối và giận dữ. Cô không thể tưởng tượng nổi
làm sao một ai đó có thể gây ra chuyện như vậy, mang đến quá nhiều đau đớn và
khổ đau cho người khác. Chính ký ức về những tiếng kêu gào của người khác đã
kích hoạt những cơn khóc của cô và dẫn đến cơn trầm cảm kéo dài nhiều ngày. Thỉnh
thoảng, sự việc ấy lại trồi lên đủ mạnh để khiến cô đi tìm một lời giải, và đó
chính là lý do căn bản khiến cô thử hồi quy tiền kiếp. Liệu chúng tôi có tìm được
câu trả lời không? Tâm trí có ý thức của cô gắn liền sự kiện này với quá nhiều
chấn thương, đến mức cô không hề muốn trải nghiệm lại nó. Nhưng liệu sự tò mò
có thắng thế? Cả hai chúng tôi đều không biết điều gì đang chờ phía trước,
nhưng có một điều chắc chắn: chúng tôi muốn tiếp tục.
Khi người
phụ nữ đã giúp tôi xem xét bản ghi chép, bà nói rằng mức độ chính xác là cực kỳ
cao. Dù một số mô tả của Katie có phần giản lược, bà không thể tìm ra sai sót
nào. Chúng đầy những chi tiết nhỏ mà không thể thu thập được qua nghiên cứu, mà
chỉ có thể đến từ một người đã thực sự sống ở Nhật Bản. Khi Katie và tôi cùng
nhau làm việc với kiếp sống này, chúng tôi dần khám phá ra một con người rất thật,
mang đầy đủ những cảm xúc phức tạp đã nhào nặn nên bản chất con người. Đây
không phải là một nhân vật tưởng tượng bằng bìa cứng. Ông trở nên thật đến mức
về sau bắt đầu ám ảnh tôi, thôi thúc tôi kể câu chuyện của ông. Tôi đã hiểu
Nogorigatu rất rõ. Tôi quý ông, và ông trở thành bạn tôi. Tôi thường tự hỏi ông
nghĩ gì về tôi. Với ông, tôi chỉ là một giọng nói nhỏ bé, tĩnh lặng trong đầu,
liên tục đặt câu hỏi chăng? Tôi cảm thấy mình đã chia sẻ với ông một trải nghiệm
vô cùng quan trọng, và nếu sự hiện diện của tôi ở đó có giúp ông bằng bất kỳ cách
nào để chấp nhận và vượt qua thử thách ấy, thì tôi biết ơn vì đã có cơ hội đó.
