Những chiếc Sừng của Nữ thần - Chương 14

 

Chương 14

 

Người hát rong, Phần 3

 

(Ghi âm ngày 20 tháng 6 năm 1985)





D: Hãy quay lại với O’Keefe, người chơi đàn hạc, người chơi đàn hạc và hát những bài hát, đi đến rất nhiều nơi, hát những bài hát và truyền tải tin tức. Tôi tin rằng tên anh là O’Keefe. Hãy quay trở lại thời điểm anh ấy còn sống. Tôi sẽ đếm đến ba, và chúng ta sẽ ở đó. Một, hai, ba. Chúng ta đang ở thời điểm người chơi đàn hạc ấy còn sống, chơi đàn và tận hưởng công việc của mình. Anh đang làm gì?

 

K: Đang ngồi bên đống lửa. Chỉ là một đống lửa nhỏ mà tôi cố gắng gom góp được.

 

D: Anh đang ở đâu?

 

K: Trên đường.

 

D: Ở bên ngoài sao? Tôi cứ tưởng có thể anh đang ở trong một quán trọ hay nơi nào đó.

 

K: Tối nay thì không.

 

D: Anh đã đi đâu đó rồi à?

 

K: Tôi đang đi đây đi đó.

 

D: Anh đang đi đâu?

 

K: Cứ đi dọc theo con đường thôi. Chẳng có nơi nào cụ thể cả.

 

D: Gần đây anh có đến những thành trì lớn nào không?

 

K: Hơn một tháng nay thì không.

 

D: Anh thích công việc của mình, phải không?

 

K: Nó giúp tôi có bánh mì bỏ vào miệng.

 

D: Gần đây anh có hát không?

 

K: Hễ khi nào có cơ hội thì tôi hát.

 

D: Nơi nào anh thích đến nhất?

 

K: Ồ, tôi không biết nữa. Có lẽ là Taramoor (phiên âm) và Shawnray (phiên âm).

 

D: Đó là những nơi đối xử tốt với anh và anh thích quay lại sao?

 

K: Ừ, họ tử tế.

 

D: Tôi vẫn thắc mắc về vùng đất mà anh phải đi bộ qua. Đó có phải là vùng đất bằng phẳng, dễ đi không?

 

“Tôi chưa từng đến Ireland và biết Karen cũng chưa từng đến đó. Tôi muốn xem liệu mô tả của cô ấy có chính xác hay không.”

 

K: Nếu là đất bằng phẳng thì đã chẳng phải Ireland rồi. Ở đó có rất nhiều đồi, thung lũng và những địa hình như thế. Cứ lên đồi này rồi lại xuống ngọn đồi kế tiếp.

 

D: Người ta sống ở những khu vực như vậy hay họ sống ở vùng đất bằng phẳng?

 

K: Họ sống khắp nơi. Ở đâu có thể kiếm được chút gì đó để sống thì họ ở đó.

 

D: Vậy gần đây trong đất nước có chuyện gì quan trọng xảy ra không? Ý tôi là những chuyện anh đưa vào bản tin mỗi khi truyền tải tin tức?

 

“Tôi đang tìm kiếm một sự kiện lịch sử nào đó mà mình có thể kiểm chứng.”

 

K: (Im lặng một lúc.) Chỉ là những nhóm người khác nhau đánh nhau qua lại như thường lệ thôi. Đại khái là vậy. Lúc nào cũng có chuyện thù hằn và xung đột. Nhà O’Connor nói nhà Brady đang chiếm đất của họ, rồi họ đánh nhau vì chuyện đó, và những chuyện tương tự. Chỉ là tình hình bình thường thôi.

 

“Giọng của cô ấy quá nặng nên tôi thường rất khó ghi lại chính xác tên của những người được nhắc đến.”

 

D: Anh có bao giờ gặp rắc rối với những người từ bên ngoài đất nước đến và cố lấy đi thứ gì đó không? Có chiến tranh hay chuyện gì tương tự không?

 

K: Lúc nào cũng có những người cập bến trên bờ biển và tìm cách tiến vào, nhưng chủ yếu thì... chuyện này cũng giống như việc một người Ireland luôn sẵn sàng đánh nhau với anh em mình cho đến khi có kẻ khác bắt đầu đánh anh em của anh ta. Khi đó họ lại liên kết với nhau. Vì vậy, hiện giờ chưa có quá nhiều rắc rối về chuyện đó.

 

D: Tôi nghĩ anh phải biết những chuyện này, bởi vì anh là người truyền tin tức. Trong quá khứ có cuộc chiến nào như vậy mà anh biết không?

 

K: Ồ, lúc nào cũng có người từ vùng đất bên kia biển đến. Đôi khi họ định cư một cách hòa bình, đôi khi họ đánh nhau, nhưng... trong lịch sử gần đây thì không.

 

D: Đó là điều tôi muốn hỏi, liệu gần đây có cuộc chiến nào đang diễn ra mà anh phải đưa tin hay không.

 

K: Không phải chiến tranh với người bên ngoài. Chỉ là những người Ireland bình thường đang có một trận ẩu đả ra trò thôi. (Tôi cười.) Hiện giờ chẳng có gì quá thú vị xảy ra cả.

 

D: Trước đây anh nói rằng khi đến các thành trì, anh phải kể cho họ nghe tất cả những tin tức mới nhất.

 

K: Đúng vậy.

 

D: Và hiện giờ cũng chỉ có chuyện các phe phái khác nhau tranh chấp với nhau thôi sao?

 

K: Ồ, họ có hai phe đang muốn đưa người của mình lên làm vua. Đại khái là thế.

 

D: Ý anh là sao?

 

K: Nhà O’Connor muốn người của họ lại làm vua. Còn nhà O’Leary cũng muốn người của họ trở lại ngai vàng. Và họ đánh nhau vì chuyện đó, như mọi khi.

 

D: Vậy là có một vị vua cai trị toàn bộ đất nước sao?

 

K: Thường thì đó là người có cây gậy lớn nhất hoặc đội quân lớn nhất.

 

D: Hiện giờ là ai? Có phải một trong hai phe đó không?

 

K: Không, hiện giờ là nhà O’Brady. Cứ mỗi trăm năm họ lại thay phiên nhau, sau khi đã đập tan đầu của tất cả những người khác trong các gia tộc. Ireland đã liên tục trải qua những chuyện như vậy kể từ khi Ireland tồn tại, hoặc kể từ khi có một vị vua cai trị toàn bộ đất nước.

 

D: Và họ quyết định ai làm vua theo cách đó sao? Họ đánh nhau với nhau.

 

K: Thường là vậy.

 

D: Anh có biết ai sẽ giành được ngai vàng tiếp theo không?

 

K: Ai có nhiều tiền nhất trong kho lương thực.

 

D: Anh có được đến những nơi đang xảy ra các cuộc tranh chấp đó không?

 

K: Thỉnh thoảng có, nhưng tôi muốn tránh xa những chỗ đó. Ý tôi là, đôi khi một người chơi đàn hạc vô tình đi ngang qua cũng có thể bị bắn trúng.

 

D: Ồ, đúng vậy, chuyện đó cũng có thể xảy ra. Tôi đang thắc mắc, ngôn ngữ anh nói là ngôn ngữ gì? Ngôn ngữ của anh có tên gọi không?

 

K: Ý cô là tiếng Gaelic?

 

D: Đó là thứ tiếng anh nói sao?

 

K: Người ta gọi nó như vậy.

 

D: Tôi hỏi vì có lần anh hát cho tôi nghe vài bài hát, và anh nói chúng được hát bằng một ngôn ngữ nào đó. Tôi chỉ thắc mắc liệu anh có hát bằng một ngôn ngữ khác với ngôn ngữ mình nói hay không.

 

“Điều này đã được một nhà ngôn ngữ học đề xuất như một cách giải thích cho ngôn ngữ được sử dụng trong những bài hát.”

 

K: Không, thường thì không. Thỉnh thoảng tôi nhận được yêu cầu hát một bài, chẳng hạn bằng tiếng Pict hay thứ tiếng nào đó tương tự. Nhưng thông thường thì tôi luôn hát bằng thứ tiếng mà mọi người đều hiểu.

 

D: Đó là điều tôi muốn biết. Có người nói với tôi rằng có thể anh hát bằng một ngôn ngữ khác mà những người khác không thể hiểu.

 

K: Không. Ý tôi là, tại sao tôi lại hát bằng thứ tiếng mà họ không hiểu? Nếu vậy thì tôi sẽ chẳng nhận được bạc hay vàng cho việc hát, bởi vì họ đâu biết tôi đang nói gì với họ.

 

D: Đúng, điều đó cũng hợp lý. Và anh cho rằng ngôn ngữ đó được gọi là Gaelic sao?

 

K: Đó là cái tên tôi nghe những người khác gọi nó, những người từ nơi khác đến đây.

 

D: Mọi người ở Ireland đều nói cùng một ngôn ngữ sao?

 

K: Tất cả những người tôi từng biết đều vậy. Ý tôi là, có những người đến từ, chẳng hạn, phía bắc, nói hơi khác một chút. Nhưng tất cả họ đều sử dụng cùng một ngôn ngữ.

 

D: Có lần anh hát về những con rồng. Anh thực sự nghĩ chúng tồn tại sao?

 

K: Nghe giống như thứ có lẽ được các bà mẹ nghĩ ra để dọa trẻ con vậy. Cô không nghĩ thế sao?

 

D: Anh đã đi rất nhiều nơi, vậy anh có bao giờ nhìn thấy thứ gì giống như thế chưa?

 

K: Chưa, và cũng chẳng có ai từng thực sự tận mắt nhìn thấy một con rồng. Dù sao thì chuyện đó cũng chỉ tồn tại trong đầu người ta thôi.

 

D: (Cười.) Còn kỳ lân thì sao? Anh có biết chúng là gì không?

 

K: Ồ, tôi từng nghe nói về chúng. Ai mà chưa từng nghe chứ? Tất nhiên lúc nào cũng có những kẻ bán rong rao bán các loại thuốc được cho là làm từ những bộ phận khác nhau của kỳ lân và những thứ tương tự. Nhưng tôi không tin họ. Tôi nghĩ họ chỉ muốn kiếm tiền thôi. Ai cũng làm những gì có thể để sinh tồn.

 

D: Vậy là anh chưa bao giờ nhìn thấy kỳ lân hay rồng.

 

K: Không.

 

D: Anh nghĩ chúng có thể chỉ là những câu chuyện thôi sao?

 

K: Ai biết được trước khi chúng ta đến đây đã từng tồn tại những gì? Ngay cả những truyền thuyết cổ xưa nhất cũng phải có một phần sự thật nào đó. Nếu không thì thông thường chúng đã chẳng được bắt đầu ngay từ đầu.

 

D: Hãy kể cho tôi nghe về cây đàn hạc mà anh chơi, cây đàn anh mang trên lưng ấy.

 

K: Cô biết gì về nó mà hỏi?

 

D: Nó có bao nhiêu dây?

 

K: Cây đàn tôi mang trên lưng có mười hai dây.

 

D: Tôi nghe nói có những cây chỉ có vài dây, còn có những cây lại có rất nhiều dây.

 

K: Càng lớn thì càng có nhiều dây.

 

D: Anh tự làm nó sao?

 

K: Nếu không tự làm thì tôi lấy nó ở đâu ra?

 

D: Tôi nghĩ đôi khi người ta làm đồ vật rồi bán cho người khác.

 

K: Tại sao một người lại bán một cây đàn hạc tốt? Trừ khi anh ta không còn chơi được nữa. Mà nếu vậy thì có lẽ anh ta sẽ truyền lại cho con trai, hoặc có thể là cháu trai của mình.

 

D: Đôi khi người ta làm đồ vật chỉ để bán cho người khác.

 

K: Vậy cô có mua một cây đàn hạc được làm bởi một người chẳng có chút âm nhạc nào trong những ngón tay không? Nếu nó chơi sai tông, hoặc phát ra âm thanh chua chát khi đáng lẽ phải có âm thanh như một cây cung... (Giọng cô ấy ở đoạn này rất nặng. Tôi nghĩ từ cô ấy nói là “bow”.) ...thì cây đàn đó sẽ chẳng ra gì.

 

D: Nghe cũng hợp lý, phải không? Tôi đang tự hỏi liệu anh có thể nói cho tôi nghe vài từ trong ngôn ngữ của anh không, chỉ vài từ đơn giản thôi, để tôi xem chúng phát âm như thế nào.

 

“Tôi đã nghiên cứu về âm nhạc và ngôn ngữ cùng một nhà ngôn ngữ học. Chính cô ấy đã đưa ra gợi ý này. Karen im lặng một lúc, nét mặt cô ấy thể hiện sự khó chịu và bối rối. Cô ấy không hiểu tôi đang muốn gì.”

 

K: Tôi không chắc mình hiểu cô đang muốn gì. Ý tôi là, tôi đang nói chuyện với cô như thế này và dường như cô vẫn hiểu tôi khá rõ. Vậy tại sao cô lại muốn... Tôi không hiểu.

 

D: Không sao. Tôi chỉ nghĩ có thể anh có những từ khác để gọi những thứ mà tôi không biết. Không sao cả. Chúng ta vẫn đang giao tiếp với nhau khá tốt theo cách này, phải không?

 

K: Ồ, đúng vậy.

 

D: Tôi rất thích nói chuyện với anh. Được rồi, hãy rời khỏi cảnh này. Tôi sẽ đếm đến ba, và chúng ta hãy đến lúc anh đang ở một trong những thành trì. Tôi sẽ đếm đến ba và chúng ta sẽ ở đó. Một, hai, ba. Bây giờ chúng ta đang ở một thành trì mà anh thích đến. Anh đang làm gì?

 

K: Tôi đang chơi đàn hạc.

 

D: Anh đang ở đâu?

 

K: Tôi đang ở Strafmoor. (Tôi yêu cầu cô ấy lặp lại. Phiên âm: Straf Moor.)

 

D: Anh đang ở đại sảnh hay ở đâu?

 

K: Tôi đang ở đại sảnh, đúng vậy.

 

D: Đại sảnh trông như thế nào? Tôi chưa bao giờ nhìn thấy nó. Anh có thể nhìn xung quanh và mô tả cho tôi được không?

 

K: Nó có những bức tường được dựng lên bằng đá, với những ô cửa sổ rất cao. Sau đó là những xà ngang bằng gỗ chạy ngang qua, bên trên phủ mái tranh.

 

D: Trần nhà cao sao?

 

K: Ồ, đúng vậy.

 

D: Cửa sổ có rất lớn không?

 

K: Không, chúng khá nhỏ.

 

D: Và chúng nằm ở trên cao.

 

K: Đúng vậy.

 

D: Vậy anh không thể nhìn ra ngoài qua đó, đúng không?

 

K: Không, và người khác cũng không thể lẻn vào qua đó.

 

D: Đó có phải là lý do tại sao chúng được đặt cao như vậy không?

 

K: Một phần là vậy, và tôi nghĩ còn vì như thế khói có thể thoát ra ngoài.

 

D: Ồ. Vậy cửa sổ không bị bịt kín sao?

 

K: Chúng được che bằng những tấm da dầu.

 

D: Tại sao lại có khói? Có đốt lửa trong phòng sao?

 

K: Ồ, đúng vậy. Có một lò sưởi lớn ở chính giữa căn phòng. Nếu không thì làm sao mọi người giữ ấm được?

 

D: Nó trông như thế nào?

 

K: Nó là một thứ lớn được nâng lên... ở chính giữa mọi thứ. Nó hình tròn và để hở. Chỉ giống như một hố lửa thôi.

 

D: Nó cao hơn mặt sàn sao?

 

K: Đúng. Nếu nó không được nâng cao hơn mặt sàn thì những bó lau sậy sẽ bắt lửa. Như thế thì thật vô lý.

 

D: (Tôi không hiểu từ cô ấy nói.) Những chiếc váy sao?

 

K: Lau sậy.

 

D: Lau sậy? Chúng ở đâu?

 

K: Rải khắp trên sàn.

 

D: Tại sao chúng lại được rải trên sàn?

 

K: Để giữ cho mọi thứ sạch sẽ và gọn gàng. (Cô ấy hơi khó chịu với tôi vì tôi không hiểu.) Tôi chưa bao giờ hỏi tại sao chúng lại ở đó. Người ta cứ làm như vậy thôi.

 

D: Ý tôi là... tôi đang nghĩ đến lau sậy... nó có giống cỏ khô không?

 

K: Ồ, đúng vậy.

 

D: Và người ta rải chúng trên sàn sao?

 

K: Đúng.

 

D: Tôi cứ nghĩ đó sẽ chỉ là một sàn nhà được quét sạch.

 

K: (Cười khẽ.) Với những người ở đây thì cô sẽ chẳng bao giờ giữ cho sàn nhà sạch bằng cách quét được đâu.

 

D: Vậy là họ rải thứ giống như cỏ này khắp sàn sao?

 

K: Đúng.

 

D: Rồi họ vứt mọi thứ xuống đó?

 

K: Họ cứ ném đồ đạc vào đám lau sậy. Sau bữa tối, xương cũng được ném xuống đó, rồi lũ chó tranh nhau những khúc xương ấy và gây náo loạn.

 

“Đây hoàn toàn không phải hình ảnh lãng mạn về một bữa tiệc trong lâu đài mà chúng ta thường thấy trong phim ảnh.”

 

D: Ồ! Vậy là họ ném mọi thứ xuống sàn sao?

 

K: Đúng vậy.

 

D: Và có những chiếc bàn được đặt quanh...

 

K: Bàn và những cái mâm, đúng vậy.

 

D: Những cái mâm? Chúng được đặt quanh đống lửa sao?

 

K: Đúng.

 

D: Theo hình tròn à?

 

K: Không, chúng được đặt thành từng hàng.

 

D: Những chiếc bàn dài sao?

 

K: Khá dài. Chúng dài hơn chiều cao của một người đàn ông.

 

D: Và họ làm gì? Đem thức ăn vào rồi đặt lên bàn sao?

 

K: Đúng vậy.

 

D: Ai làm việc đó? Người hầu hay ai?

 

K: Đúng, những người lao dịch.

 

Ghi chú: “Drudge” - người bị bắt làm những công việc nặng nhọc, tầm thường hoặc buồn tẻ.

 

D: Những người lao dịch mang thức ăn vào sao? Sau đó mọi người ăn, rồi ném xương và mọi thứ xuống sàn sao?

 

K: Đúng vậy.

 

D: Có nhiều chó ở đó không?

 

K: Đủ nhiều để tạo ra một mớ hỗn loạn, rồi chúng tranh giành và đánh nhau vì thức ăn.

 

D: (Cười.) Chúng đánh nhau vì thức ăn.

 

K: Đúng.

 

D: Trên bàn có những loại thức ăn gì?

 

K: Những thứ như thịt nai và... (cô ấy dừng lại khi nhìn quanh) ồ... chim hun khói. Rồi nhiều loại chim khác nhau như gà gô, gà lôi và những thứ tương tự. Còn có nhiều loại cá và những thứ như vậy. Và củ các loại nữa.

 

D: Và gì cơ?

 

K: Củ. (Phiên âm.)

 

D: Đó là gì?

 

K: (Đến câu này cuối cùng tôi cũng hiểu cô ấy đang nói gì.) Củ thì vẫn là củ thôi, tôi chẳng biết gọi nó bằng cái tên nào khác.

 

D: Ồ. Nó giống một loại rau sao? Hay anh có biết từ đó không? (Im lặng một lúc.) Nó mọc dưới đất à?

 

K: Ồ, đúng, đúng vậy.

 

D: Được rồi. Đó là một cái tên khác. Bây giờ tôi hiểu anh nói gì rồi. Ở đó có nhiều những thứ mọc dưới đất như vậy để ăn không?

 

K: Có đủ số lượng để nuôi tất cả những cái miệng ở đó.

 

D: Còn bánh mì thì sao? Có ai làm bánh mì không?

 

K: Có những loại bánh dẹt, nếu đó là điều cô muốn nói.

 

D: Đó là bánh ngọt hay là...?

 

K: Ồ, không, không. Đó là bánh làm từ bột xay. Chúng là những chiếc bánh dẹt. Tôi không biết nói cách nào khác.

 

D: Chúng không dày lắm phải không?

 

K: Có lẽ dày khoảng bằng một ngón tay rưỡi.

 

D: Ý tôi là, chúng cao bao nhiêu?

 

K: Chúng cao như thế đấy.

 

D: Còn kích thước bề ngang thì sao?

 

K: Ồ, khoảng chừng thế này. (Ra hiệu bằng tay.) Nếu cô dang hai bàn tay ra thì có thể ôm trọn nó.

 

D: Và thứ này không ngọt sao?

 

K: Không.

 

D: Nó có màu gì?

 

K: Có lẽ màu nâu.

 

D: Họ ăn nó cùng với thịt sao?

 

K: Thường thì người ta dùng nó để vét hết thức ăn còn lại trên chiếc mâm sau đó rồi ăn luôn như vậy. (Cười khẽ.) Đó là cách duy nhất để ăn nó, tức là phải có một ít nước sốt ngon thấm vào.

 

D: Anh có biết đĩa là gì không? (Im lặng.) Một số người ăn thức ăn bằng đĩa.

 

K: Tôi không biết từ đó, không.

 

D: Nó là một thứ... anh có biết đồ gốm là gì không? Ở đó có đồ gốm không? Hay...

 

K: Chúng tôi có những cái ly lớn, nếu đó là thứ cô đang nói.

 

D: Ly lớn. Được rồi. Đôi khi người ta có những thứ để đựng thức ăn, rồi anh...

 

K: Ồ, họ đặt thức ăn vào những cái mâm.

 

D: Vào những cái mâm. Và anh có những cái ly lớn để rót đồ uống vào sao?

 

K: Một số người có ly lớn. Những người khác thì chỉ dùng... cô gọi chúng là gì nhỉ? Có lẽ gọi là ly hoặc ca là đúng.

 

D: Ly lớn là loại sang trọng hơn sao?

 

K: Đó là loại dành cho những người có địa vị cao, đúng vậy.

 

D: Họ có những loại đồ uống gì?

 

K: Ồ, có bia đen, bia ale, rượu mật ong và những thứ tương tự.

 

D: Có ai uống sữa không? Anh có biết đó là gì không?

 

K: Đó là thứ họ cho trẻ con uống.

 

D: (Tôi không hiểu từ đó.) “Baron” sao? Vậy người dân thường không uống nó à? (Cô ấy im lặng và tỏ vẻ bối rối.)

 

K: Cô không hiểu tôi rồi. Không, đó là thứ họ cho những đứa bé uống.

 

D: À, được rồi. Tôi tưởng anh nói “baron”, tức là một người có địa vị cao.

 

K: Tôi không biết “baron” là gì. Đó là một từ xa lạ đối với tôi. Cô giải thích cho tôi được không?

 

D: À, nó giống như một tù trưởng vậy. Ở một nơi nào đó, người ta có thể gọi một tù trưởng hoặc một vị vua bằng từ đó.

 

K: Đó là một từ thú vị đấy.

 

D: Nó dùng để chỉ một người có địa vị cao. Vậy họ cho trẻ sơ sinh, những đứa bé, uống sữa sao?

 

K: Đúng.

 

D: Còn những người lớn tuổi như anh thì không uống sữa sao?

 

K: Thông thường thì không.

 

D: Trong những bữa tiệc như thế này, họ có phục vụ thứ gì ngọt không?

 

K: Chỉ khi cô có rất nhiều tiền thì mới có đồ ngọt. Nó hiếm lắm, rất hiếm. Được làm từ mật ong và những thứ tương tự, mà lại rất đắt.

 

D: Tôi cứ nghĩ nếu họ tổ chức một bữa tiệc lớn như thế này thì hẳn phải có thứ gì đó ngọt chứ. Hay chỉ trong những dịp đặc biệt?

 

K: Thường là những dịp như đám cưới và những chuyện tương tự.

 

D: Có quy định về chỗ ngồi không? Có người nào quan trọng hơn những người khác không?

 

K: Có. Có những người ngồi ở những chiếc bàn cao, rồi vị trí ngồi được sắp xếp theo thứ bậc từ cao xuống thấp. Sau đó còn có sự phân chia trên và dưới người giữ muối, đại loại như vậy.

 

D: Ý anh là gì khi nói “trên và dưới người giữ muối”?

 

K: Chỗ họ đặt muối ấy. Người ta sẽ ngồi ở phía trên hoặc phía dưới chỗ đặt muối.

 

D: Những chiếc bàn cao sao? Ý anh là chúng được nâng cao hơn những người khác à?

 

K: Ồ, có một chiếc như vậy. Đó là bàn của chủ nhân nơi này. Ông ấy sẽ ngồi ở bàn cao. Tất cả những vị khách đến thăm, chẳng hạn như họ hàng hay những người có quan hệ gì đó với ông ấy, cũng sẽ ngồi ở đó. Sau đó, chỗ ngồi được sắp xếp thấp dần xuống phía cuối căn phòng.

 

D: Khi anh nói họ ngồi “trên và dưới muối”, chẳng phải mọi người đều được dùng muối sao?

 

K: Không. Chỉ những người có địa vị nhất định mới được phép dùng muối.

 

D: Tại sao vậy? Muối hiếm sao? Khó tìm sao?

 

K: Đúng. Ở rất nhiều nơi, muối cũng quý như tiền bạc vậy.

 

D: Vậy những người ngồi ở phía thấp hơn không được dùng muối cho thức ăn của họ sao?

 

K: Đúng.

 

D: Ừm. Vậy sau khi ăn xong, họ cứ ném mọi thứ xuống sàn.

 

K: Lũ chó sẽ dọn sạch.

 

D: Họ có thứ gì để ăn thức ăn không?

 

K: Họ có dao.

 

D: Người ta ăn mặc như thế nào? Đặc biệt là phụ nữ. Họ có cách ăn mặc nào đặc biệt không?

 

K: Ý cô là họ ăn mặc thế nào sao? Họ mặc váy, một loại áo váy gọi là “curtle”.

 

D: Curtle?

 

Ghi chú: “Kirtle” - áo choàng hoặc váy ngoài của phụ nữ, thường được mặc như một lớp trang phục bên ngoài.

 

K: Còn gì nữa? Ý tôi là, tôi không biết nhiều về thời trang phụ nữ.

 

D: Váy của họ có dài không?

 

K: Có, chúng chạm xuống sàn.

 

D: Họ có đội thứ gì trên đầu không?

 

K: Họ đội những chiếc “wimple”.

 

Ghi chú: “Wimple” - một loại khăn trùm đầu bằng vải, che đầu, cổ và hai bên khuôn mặt, trước đây phụ nữ thường đội và một số nữ tu vẫn còn sử dụng.

 

D: Vậy họ không để tóc xõa xuống sao?

 

K: Thường thì họ búi tóc thành những bím tóc hoặc cuộn tóc lại trong một loại lưới trùm tóc nào đó.

 

Ghi chú: “Caul” - loại mũ hoặc lưới trùm tóc ôm sát đầu mà phụ nữ thường đội trong nhà.

 

D: Còn phần trên của váy thì sao? Nó có kéo cao lên tận cổ không, hay...

 

K: Có. Nó kéo lên khá cao.

 

D: Không khoét thấp xuống sao?

 

K: Không. Nếu thế thì cô sẽ chết cóng mất.

 

D: (Cười khẽ.) Ồ, ở đó lạnh lắm à?

 

K: Ồ, mùa đông ở đây khá lạnh.

 

D: Tay áo dài hay ngắn?

 

K: Dài.

 

D: Họ có đeo trang sức không?

 

K: Những người đủ tiền thì có. Còn không đủ tiền thì không. Thường có lẽ chỉ là một chiếc nhẫn hoặc một cây thánh giá, đại khái thế thôi.

 

D: Không có gì cầu kỳ hơn sao? Còn chủ nhân nơi đó thì sao? Ông ta có đeo loại trang sức đặc biệt nào không?

 

K: Ông ấy có một chiếc nhẫn gia huy, và có thể còn có một thứ gì đó... (cô ấy suy nghĩ để tìm từ thích hợp) ...một loại huy hiệu. Nó nằm ngay giữa ngực.


D: Một miếng kim loại tròn được treo trên dây chuyền hay thứ gì đó sao?

 

K: Đúng. Nó thể hiện chức vị của ông ấy. Chúng có những kiểu dáng khác nhau và được thêu hình gia huy của ông ấy cùng những thứ tương tự.

 

D: Và thứ đó cho biết họ là ai.

 

K: Đúng.

 

D: Còn đàn ông thì mặc loại quần áo nào?

 

K: Áo “jerkin” và quần bó chân. Tôi không biết phải giải thích cách nào khác.

 

Ghi chú: “Jerkin” - loại áo khoác nam ôm sát người, thường được làm bằng da.

 

D: Chiếc áo “jerkin” có dài xuống chân không?

 

K: Khoảng đến giữa đùi.

 

D: Nó có tay áo dài không?

 

K: Có. Đôi khi họ mặc một chiếc áo sơ mi bên trong. Khi đó, áo “jerkin” bên ngoài có tay ngắn, còn áo sơ mi bên trong có tay dài. Như vậy sẽ ấm hơn nhiều. Tôi nghĩ còn tùy vào thời điểm trong năm.

 

D: Họ có đội thứ gì trên đầu không?

 

K: Mỗi người có thể đội những loại mũ khác nhau. Có lẽ tùy tâm trạng, hoặc tùy anh là ai và có đủ tiền mua loại nào. Một số cái trông khá kỳ quặc. Tôi từng thấy một chiếc trông giống như một con chim đang chuẩn bị vỗ cánh bay đi.

 

D: (Cười.) Trên đầu một người đàn ông sao?

 

K: Đúng. Rõ ràng đó là một người đàn ông rất coi trọng bản thân mình, tôi nghĩ vậy.

 

D: (Cười khẽ.) Ông ta muốn khác biệt và khiến mọi người phải chú ý đến mình.

 

K: Đúng là mọi người chú ý đến ông ta, nhưng nhiều người nghĩ ông ta là một kẻ ngốc.

 

D: Còn anh mặc loại quần áo nào?

 

K: Thường thì chỉ có quần bó chân và áo “jerkin”. Có thể thêm một chiếc áo choàng nếu trời lạnh. Đại khái là vậy.

 

D: Anh có đội gì trên đầu không?

 

K: Đôi khi đội mũ vào mùa đông hoặc khi trời mưa. Nhưng thông thường tôi để đầu trần.

 

D: Quần áo có màu sắc nhất định nào không?

 

K: Quần áo của tôi màu nâu, và tôi có một bộ màu đỏ. Nhưng bộ màu đỏ dành cho những dịp đặc biệt.

 

D: Người ta có mặc những màu sáng không?

 

K: Làm sao họ có thể mua nổi thuốc nhuộm cho những màu đó? Trừ khi màu ấy có sẵn trong những thứ xung quanh họ, nếu không thì họ không thể có thuốc nhuộm.

 

D: Vậy hầu hết mọi người chỉ mặc quần áo màu nâu sao?

 

K: Hoặc màu tự nhiên của thứ mà quần áo được làm ra. Chẳng hạn, nếu là len thì nó sẽ có màu của con cừu đã được xén lông.

 

D: Họ không nhuộm nó sao?

 

K: Không.

 

D: Và rất ít người mặc những màu sáng?

 

K: Không nhiều, trừ khi họ có đủ khả năng mua chúng.

 

D: Anh lấy bộ quần áo màu đỏ ở đâu?

 

K: Tôi phải trả một khoản rất đắt cho nó. Tôi mua nó từ một người thợ may. Khi cô đến các thành trì, cô phải có ít nhất một bộ quần áo trông như thể cô thuộc về nơi đó.

 

D: Vậy khi anh hát và ngồi đó chơi đàn hạc, anh ngồi ở đâu trong phòng?

 

K: Thường là trên một chiếc ghế gần bàn cao, để những người ngồi đó có thể nghe thấy tôi, và họ có thể nói cho tôi biết họ muốn nghe bài gì hay những thứ tương tự.

 

D: Anh nói đôi khi có những người tung hứng.

 

K: Đúng.

 

D: Còn những người nhào lộn thì sao? Anh có biết họ là gì không?

 

K: Tôi không biết từ đó.

 

D: Nó chỉ những người làm những việc như... à, họ nhảy nhót và thực hiện đủ loại trò nhào lộn bằng cơ thể. Họ lộn ngược người và làm những thứ như vậy.

 

K: Tôi đã thấy những người làm như thế. Và còn có những người diễn trò, những “mummers”, cùng những thứ khác có thể diễn ra. Họ đóng kịch và diễn lại các câu chuyện.

 

Ghi chú: “Mummer” là một nghệ sĩ biểu diễn thời Trung Cổ, thường là diễn viên nghiệp dư. Họ biểu diễn trong các vở kịch khác nhau tại các làng quê, thường vào mùa thu hoạch hoặc trong những dịp tôn giáo như lễ Giáng Sinh.

 

D: “Mummers”? Ồ, ý anh là họ diễn kịch nhưng không nói chuyện sao?

 

“Tôi đang nghĩ đến những người diễn kịch câm.”

 

K: Không, họ có nói chuyện. Nhưng họ dùng... chẳng hạn, những giọng nói khác nhau và những cách như thế để khiến mọi người thấy buồn cười hơn. Cô có hiểu tôi đang nói gì không?

 

D: Tôi nghĩ là có. Ý anh là họ đóng nhiều vai khác nhau?

 

K: Ồ, đúng vậy.

 

D: Một người làm tất cả sao?

 

K: Ồ, thường có một nhóm người, nhưng mỗi người đều đóng vài vai khác nhau để tạo thành cả một màn diễn. Có khoảng hai hoặc ba người, có khi bốn người.

 

D: Khi diễn như vậy, họ có thay quần áo khác không, hay chỉ thay đổi giọng nói?

 

K: Thường thì họ chỉ thay đổi giọng nói. Nhưng tôi từng thấy một số người có những bộ trang phục có thể xoay chuyển. Chẳng hạn, một mặt của bộ trang phục này, khi người đàn ông xoay nó lại, là quần bó và áo “doublet”. Còn mặt kia lại có một chiếc váy dài “curtle”. (Tôi cười.) Trông rất kỳ lạ.

 

D: Vậy là ông ta giả làm cả phụ nữ lẫn đàn ông phải không?

 

K: Đúng.

 

D: Mọi người thấy như vậy buồn cười sao?

 

K: Họ cười rất lớn.

 

D: Và họ kể chuyện theo cách đó sao?

 

K: Đúng.

 

D: Cũng giống như cách anh làm, chỉ có điều anh kể chuyện bằng cách hát.

 

K: Theo một nghĩa nào đó thì đúng.

 

D: Ngoài anh ra, họ có những người khác chơi nhạc không?

 

K: Ồ, có những người chơi đàn hạc khác và những người tương tự.

 

D: Ý anh là tất cả các anh cùng chơi ở một thành trì sao? Mỗi khi anh chơi, có bao giờ có người khác chơi một loại nhạc cụ khác không? Không nhất thiết cùng lúc với anh, mà có thể trước khi anh xuất hiện?

 

K: Đôi khi, nhưng không thường xuyên. Thường thì nếu một thành trì đã có một người chơi đàn hạc, một người chơi đàn hạc khác sẽ không ở lại đó.

 

D: Ồ, điều đó cũng hợp lý. Nhưng có những người chơi những loại nhạc cụ khác không?

 

K: Ồ, đôi khi phụ nữ chơi đàn luýt. Nhưng họ không chơi ở đại sảnh hay những nơi như vậy.

 

D: Có thứ gì mà người ta thổi vào để tạo ra âm nhạc không?

 

K: Ồ, có sáo và những thứ tương tự, nhưng phần lớn vẫn là những nhạc cụ có dây.

 

D: Vậy hiện giờ anh chỉ đang chơi nhạc thôi sao?

 

K: Đúng.

 

D: Anh sẽ hát cho họ nghe sớm chứ?

 

K: Ở đây đang quá ồn nên thật sự không thể hát được. Mọi người đang rất vui vẻ, nhưng cũng bắt đầu nóng nảy và bực bội. Tôi nghi là họ chẳng muốn nghe nhạc, ngoài việc chỉ nghe nhạc để tạo không khí thôi. Họ sẽ không muốn nghe tôi hát đâu.

 

D: Đây là một thành trì lớn sao? (Im lặng.) Ý tôi là, nó có nhiều phòng không?

 

K: Nó có khá nhiều phòng.

 

D: Khi anh bước vào thành trì, anh đi vào bằng cách nào? Có một cánh cửa lớn hay sao?

 

K: Có một cổng lớn.

 

D: Một cổng lớn. Bên ngoài thành trì có tường bao quanh không? Hay anh đi thẳng vào bên trong thành trì?

 

K: Cô đi vào thẳng thành trì.

 

D: Tôi nghe nói một số nơi có những bức tường cao ở bên ngoài thành trì để ngăn người khác tiến vào, chẳng hạn khi có chiến tranh hay chuyện gì đó.

 

K: Nơi này thì không.

 

D: Anh đã từng nhìn thấy nơi nào như vậy chưa?

 

K: Không phải quanh đây. Nơi này chỉ có những cánh cổng để ngăn người khác tiến vào khu vực trung tâm. Và từ những vị trí cao hơn, người ta có thể bắn xuống những kẻ đang bao vây mình.

 

D: Có tháp hay thứ gì tương tự không? (Im lặng.) Anh có biết từ đó không? (Im lặng.) Ý tôi là một phần của tòa nhà nhô cao hơn tất cả những phần còn lại.

 

K: Nhưng toàn bộ tòa nhà về cơ bản đều liền thành một khối.

 

D: Tất cả đều có cùng chiều cao sao?

 

K: Đúng. Ý tôi là nó không thấp. Nhưng cũng không cao lớn như điều cô đang nói.

 

D: Tôi từng nghe nói có những nơi chỉ có một phần nhô cao hơn tất cả những phần còn lại.

 

K: Tôi chưa từng thấy nơi như vậy.

 

D: Tất cả các phòng đều có trần cao như đại sảnh sao?

 

K: Không. Nhà bếp thì có trần cao để khói bồ hóng thoát ra và những thứ tương tự. Nhưng những phòng khác thì phía trên chúng còn có một căn phòng khác. Còn đại sảnh thì chỉ là một căn phòng lớn riêng biệt.

 

D: Anh nói nhà bếp có trần cao để khói bồ hóng thoát ra sao?

 

K: Đúng. Tro than và những thứ tương tự từ lửa, lò nướng và những thứ như vậy. Nếu không có mái cao và những chỗ để khói thoát ra, người ta sẽ không thể thở được ở đó.

 

D: Đây là cách họ nấu ăn sao? Họ có những lò nướng lớn à?

 

K: (Cười khẽ.) Theo như tôi biết thì là vậy. Tôi không có cách nào biết chắc. Tôi nấu ăn không giỏi đến thế.

 

D: Tôi cũng vậy. Vì thế tôi mới hỏi. Vậy khi anh nhìn quanh đại sảnh, trên tường có thứ gì để trang trí không?

 

K: Có những tấm treo và những thứ họ làm rất công phu, nhưng không có gì thực sự cầu kỳ.

 

D: Ý anh là gì? Những bức tranh lớn hay những tấm thêu chẳng hạn? Hay họ làm chúng như thế nào?

 

K: Chúng được dệt và những thứ tương tự. Tôi nghĩ từ đó là khung cửi. Tôi không quen với từ này. Tôi chỉ biết chúng được làm như vậy. Tấm lớn nhất là gia huy của gia tộc, có thể nói là như vậy.

 

D: Giống thứ anh nói người đàn ông đeo trên cổ sao?

 

K: Đúng, đúng vậy. Nó được treo phía sau chiếc bàn cao của chủ nhân.

 

D: Nó có hình gì? Anh có nhìn thấy từ chỗ mình đang ngồi không?

 

K: Ở chính giữa có một con hươu đỏ với một thanh kiếm xuyên qua nó. Và ở góc trên có một con sếu...

 

D: Một con sếu?

 

K: Một chiếc vương miện. Ở góc trên. Bên trong vương miện có một cây thánh giá. Còn ở góc dưới có... trông giống như một loại đàn hạc. Mặc dù tôi không thực sự quen với kiểu đàn hạc đó.

 

D: Vậy thiết kế được chia thành bốn phần sao?

 

K: Tất cả các gia huy mà tôi từng thấy đều như vậy. Còn hai phần kia, một phần phía trên có màu xanh...

 

D: Ý anh là màu sắc sao?

 

K: Ở hai góc đối diện... Tôi không mô tả giỏi lắm.

 

D: Anh đang mô tả rất tốt. Vậy ý anh là một góc có một màu, còn góc kia có một hình nào đó?

 

K: Đúng. Và ngay chính giữa là con hươu với thanh kiếm xuyên qua nó.

 

D: Điều đó có vẻ kỳ lạ. Tôi tự hỏi tại sao lại có thanh kiếm xuyên qua con hươu.

 

K: Có lẽ để thể hiện nó bị hạ trong một cuộc săn hay thứ gì đó. Tôi không biết. Còn con hươu trắng...

 

D: (Cuối cùng tôi cũng hiểu cô ấy đang nói gì.) À, “hart”! Tôi hiểu rồi, ý anh là một con vật.

 

K: Đúng.

 

D: Tôi tưởng anh nói “heart”, tức là trái tim trong cơ thể.

 

K: Không, không phải.

 

D: (Cười khẽ.) Hai từ đó nghe giống nhau.

 

K: Đúng vậy. Nhưng nếu đó là một con hươu trắng thì nó có thể tượng trưng cho sự thuần khiết và những điều tương tự. Còn con hươu đỏ thì có lẽ thể hiện sức mạnh và những thứ như vậy. Tôi nghĩ ý nghĩa là thế, nhưng tôi không chắc.

 

D: À, vâng, bây giờ tôi hiểu anh muốn nói gì rồi. Tất cả đều là một phần của thiết kế.

 

K: Đúng.

 

D: Và một chiếc vương miện...

 

K: Chiếc vương miện có một cây thánh giá bên trong.

 

D: Tôi đang cố nhớ xem anh nói gì ở phía bên kia. Có một chiếc vương miện, rồi có một...

 

K: Một cây đàn hạc!

 

D: Đúng rồi, một cây đàn hạc!

 

K: Đúng, có một cây đàn hạc ở phía dưới, ở một bên. Rồi có chiếc vương miện với cây thánh giá bên trong. Còn ở phía bên kia, phần trên có màu xanh và phần dưới màu đỏ. Ý tôi là, không phải màu đỏ, mà là màu vàng. Xin lỗi, tôi đang nghĩ đến con hươu đỏ.

 

D: Màu xanh và màu vàng. Được rồi. Bây giờ tôi nghĩ mình đã hình dung được nó trông như thế nào. Và đây là gia huy của người sở hữu ngôi nhà này.

 

K: Đúng. Strafmoor. (Phiên âm. Có thể là Stravmoor. Âm nghe giống chữ F hơn.)

 

D: Đó là tên của gia tộc hay tên của thành trì?

 

K: Đúng. Và cũng là tên của ông ấy. Đó cũng chính là tên của ông ấy.

 

D: Những tấm treo khác, nhỏ hơn, trông như thế nào?

 

K: Một số chỉ có hoa và những thứ tương tự. Không có gì quan trọng hay lớn lao cả. Chúng chỉ được treo ở đó thôi. Người ta cho rằng chúng giúp giữ ấm căn phòng. Một số tấm bị phủ đầy khói và những thứ tương tự đến mức anh chẳng thể biết chúng là gì nữa. Đã lâu rồi họ chưa làm sạch chúng.

 

D: Treo chúng trên tường có làm căn phòng ấm hơn sao?

 

K: Người ta cho là vậy. Tôi không biết nó có giúp được nhiều không.

 

D: Ở đó lạnh khi trần nhà cao như vậy, phải không?

 

K: Đúng.

 

D: Anh nói những xà nhà có mái tranh phủ lên sao?

 

K: Mái nhà được lợp bằng tranh. Có những xà nhà làm bằng gỗ, rồi mái nhà được phủ tranh lên trên.

 

D: Tôi cứ nghĩ mái nhà cũng bằng đá giống như tòa nhà.

 

K: Làm sao anh có thể đưa đá lên đó? Ý tôi là, cái gì sẽ giữ nó? Đá nặng hơn gỗ. Cái gì sẽ đỡ nó?

 

D: Những bức tường bằng đá, phải không?

 

K: Đúng. Nhưng chúng chỉ được xếp chồng lên nhau. Chúng cứ dựng thẳng lên. Vậy cái gì sẽ giữ đá ở một góc như thế?

 

D: Tôi không biết. Làm như vậy chắc khó lắm, phải không? Nhưng chẳng phải mái tranh là thứ có thể bị gió thổi bay hay sao?

 

“Vào thời điểm đó, tôi chưa quen với những mái nhà lợp tranh. Nhưng hiện nay, vì mỗi năm tôi đều đi đến nước Anh, tôi nhìn thấy rất nhiều ngôi nhà vẫn còn sử dụng kiểu mái này. Đây là một nghề thủ công đang dần mai một ở Anh, bởi vì người ta không còn biết cách sửa chữa những mái nhà như vậy. Công việc này khá tẻ nhạt và kỹ thuật ấy không còn được truyền lại cho thế hệ trẻ. Mái tranh được làm rất chặt và chắc chắn, phục vụ khá tốt mục đích của nó, nhưng thỉnh thoảng vẫn cần được sửa chữa, cũng như bất kỳ loại mái nhà nào khác. Tuy nhiên, vào thời điểm buổi thôi miên này diễn ra năm 1985, trong đầu tôi lại hình dung ra những lớp tranh hoặc cỏ rời rạc đặt trên mái nhà. Nhìn lại thì hình ảnh đó rõ ràng không thực tế lắm.”

 

K: Nó được buộc rất chắc. Tất nhiên, người ta phải thay nó. Thường là vào mùa xuân hoặc mùa hè. Nhưng nó giữ rất tốt.

 

D: Tôi cứ nghĩ có thể nước mưa sẽ lọt qua, hoặc gió sẽ thổi bay nó.

 

K: Nó được lợp rất dày và buộc rất chắc xuống.

 

D: Vậy toàn bộ mái của thành trì đều được làm bằng thứ này sao?

 

K: Phần mà tôi nhìn thấy thì đúng.

 

D: Còn những bức tường bằng đá. Sàn nhà cũng bằng đá sao?

 

K: (Bối rối.) Tôi không biết.

 

D: À, sàn được phủ bằng lau sậy nên khó nhìn thấy.

 

K: Tôi nghĩ có lẽ chỉ là đất thôi. Tôi không biết.

 

D: Nhưng lò sưởi ở giữa, nơi đốt lửa...

 

K: Cái đó bằng đá.

 

D: Và nó được nâng cao lên.

 

K: Đúng.

 

D: Rồi khói thoát ra về phía những ô cửa sổ. Họ có mở những tấm vải dầu đó ra không?

 

K: Thường thì chúng chỉ được mở ở phía trên. (Cô ấy bối rối, không biết phải giải thích thế nào.) Chúng được cố định bằng cách nào đó ở phía trên, nhưng phần còn lại để tự do bay phấp phới.

 

D: À, vậy là chúng không được đóng kín. Nhờ thế khói có thể thoát ra.

 

K: Đúng.

 

D: Nhưng như vậy thì nước mưa cũng có thể lọt vào, phải không?

 

K: Nó cũng che chắn được phần nào. Nhưng không có đủ khoảng hở để nước mưa lọt vào nhiều, trừ khi bên ngoài là một ngày gió rất lớn.

 

D: Bây giờ tôi có thể hình dung được nơi đó trông như thế nào. Anh có thích chơi đàn ở các thành trì không?

 

K: Nó trả công tốt hơn việc hát ở các quán trọ.

 

D: Tôi muốn anh hát thêm một bài nữa cho tôi nghe. Trước đây anh đã từng hát cho tôi rồi.

 

K: Đúng, có thể cô thích nghe, nhưng tôi nghĩ tối nay mình có thể bị đuổi khỏi đây. Không, tôi không nghĩ tối nay mình sẽ hát.

 

D: Anh không nghĩ họ muốn nghe tin tức hay gì đó sao?

 

K: Tối nay thì không. Hiện giờ họ khá náo loạn.

 

“Tôi muốn nghe thêm một vài bài hát. Tôi sẽ phải đưa cô ấy rời khỏi cảnh này.”

 

D: Được rồi. Vậy chúng ta hãy rời khỏi cảnh đó. Hãy đi khỏi nơi này. Tôi sẽ đếm đến ba, và chúng ta sẽ đến một thời điểm khi anh đang biểu diễn, khi anh được phép hát, một thời điểm mà anh có thể hát cho tôi nghe và cũng hát cho tất cả mọi người. Họ rất thích nghe anh hát. Tôi sẽ đếm đến ba và chúng ta sẽ ở đó. Một, hai, ba. Bây giờ anh đang ở một nơi mà anh đang biểu diễn và hát cho mọi người nghe. Anh đang làm gì?

 

K: Đang chơi đàn hạc.

 

D: Bây giờ anh đang ở đâu?

 

K: Tôi đang ở thành trì Claire.

 

D: Anh có thích thành trì đó không?

 

K: Nó là một thành trì khá tốt.

 

D: Tối nay anh sẽ hát chứ?

 

K: Có.

 

D: Anh có thể hát để tôi nghe không? Như vậy tôi cũng sẽ biết nó nghe như thế nào. (Cô ấy có vẻ do dự.) Tôi sẽ rất cảm kích nếu anh chịu hát. (Im lặng.) Anh làm điều đó cho tôi được không?

 

K: (Nhẹ giọng.) Tôi nghĩ là được.

 

D: Được rồi. Vì tôi muốn nghe. Trước đây anh đã từng hát rồi và tôi thực sự rất thích giọng hát của anh.

 

“Cô ấy hát một bài chậm khác. (Bài hát số 6, dài khoảng 45 giây.)

 

D: Tôi thích bài đó. Mọi người có thích không?

 

K: Không có thứ gì bị ném vào tôi, nên tôi đoán là họ thích.

 

D: Giai điệu rất hay. Anh hát thêm một bài nữa cho tôi được không? (Im lặng.) Anh sẽ hát nhiều bài, phải không?

 

K: Tôi hát khá nhiều bài. (Cô ấy có vẻ khó chịu.)

 

D: Tại sao anh lại thấy khó chịu khi tôi yêu cầu anh hát?

 

K: Chỉ là đôi khi tôi cảm thấy rất khó. Tôi cũng không chắc tại sao.

 

D: Anh có biết tại sao không? (Im lặng.) Vì tôi không muốn làm anh khó chịu. Anh có biết lý do không? Tôi đang cố gắng hiểu.

 

K: Tôi không chắc. Đôi khi nó giống như bị khép lại vậy. Và chẳng có gì muốn thoát ra cả. (Cười khẽ một cách căng thẳng.)

 

D: Nhưng điều đó không xảy ra khi anh hát cho mọi người nghe, phải không?

 

K: (Cười khẽ.) Đôi khi cũng có. Còn tùy vào tình huống. Chẳng hạn như khi tôi chưa từng đến nơi đó trước đây.

 

D: Ừ, tôi hiểu cảm giác đó. Anh không biết họ có thích hay không. (Tôi đang cố gắng giúp cô ấy tự tin hơn.) Đứng trước tất cả những người đó quả thực hơi khó.

 

K: Đúng.

 

D: Nhưng tôi thực sự muốn anh hát thêm một bài nữa, rồi tôi sẽ để anh đi. Tôi sẽ rất cảm kích. Tôi thích âm nhạc của anh. Nó có một âm thanh thật đẹp.

 

K: Tôi nghĩ tôi sẽ thử.

 

“Cô ấy hát thêm một bài chậm. (Bài hát số 7, dài khoảng một phút.)

 

D: Bài đó thật hay. Tôi thích nó. Anh nói từ “shelan” (phiên âm) rất nhiều lần trong bài. Nó có nghĩa là gì?

 

K: Đó là tên của một người. Nó giống như một bài ai ca vậy.

 

D: Một bài ai ca?

 

K: Đúng. Một tiếng khóc gọi người đó.

 

D: Người đó đã ra đi sao? Và họ muốn người ấy quay trở lại?

 

K: Đúng.

 

D: Người mà họ gọi là đàn ông hay phụ nữ?

 

K: Là một người phụ nữ.

 

D: Họ hẳn rất đau buồn.

 

K: Đúng.

 

D: Ừ, nghe bài hát quả thực rất buồn.

 

K: Hoặc ít nhất là tràn đầy nỗi nhớ mong.

 

D: Nhưng nhiều bài hát của anh cũng như vậy, phải không?

 

K: Đúng.

 

D: Người dân ở vùng đất của anh có nhảy múa không?

 

“Loại nhạc Ireland duy nhất mà tôi quen thuộc là điệu jig Ireland hiện đại. Loại nhạc đó rất sôi động, chứ không chậm và buồn. Tôi tự hỏi liệu kiểu âm nhạc ấy có tồn tại vào thời đó hay không.”

 

K: Thỉnh thoảng họ nhảy jig, hoặc bất cứ khi nào có vài người tụ tập với nhau. Nhìn chung chúng tôi là một dân tộc vui vẻ. Nhưng những bài hát vui thì cô chẳng bao giờ hát, trừ khi có người đang nhảy. Khi đó cũng chẳng ai nghe được cô hát vì tiếng vỗ tay.

 

D: Khi họ nhảy, có nhạc đi kèm không?

 

K: Có. Đôi khi là đàn hạc, đôi khi chỉ là tiếng vỗ tay, hoặc dùng sáo và những thứ tương tự. Tôi chưa bao giờ chơi sáo nên không biết cách chơi. Đôi khi họ dùng giọng hát để tạo ra giai điệu, nhưng nó... nó không có nhiều lời. (Lại bối rối vì không biết giải thích thế nào.) Nó chỉ giống như dùng giọng để giữ và ngân theo giai điệu thôi.

 

D: Anh có bao giờ ra đó nhảy không?

 

K: Có, nhưng tôi nghĩ hai chân của tôi chẳng hiểu nhau lắm.

 

D: (Cười.) Một số người nhảy giỏi hơn những người khác.

 

K: Đúng là vậy.

 

D: Có lần anh nói với tôi rằng khi còn là một cậu bé, anh đã đi cùng cha và ông ấy dạy anh cách làm tất cả những việc này, đúng không?

 

K: Đúng vậy.

 

D: Khi còn nhỏ, anh sống ở vùng nào của đất nước? (Im lặng.) Trước khi đi cùng cha, anh có nhớ mình đã sống ở đâu không?

 

K: Tất cả những gì tôi nhớ là nơi đó nằm trong một thung lũng, mọi thứ đều xanh tươi. Có cả động vật và những thứ như vậy. Nhưng tôi không nhớ nhiều về nó. Tôi chỉ nhớ nơi đó ở gần một con sông. Từ đó đến giờ tôi chưa bao giờ quay lại.

 

D: Tôi tự hỏi anh có bao giờ quay lại thăm mẹ hoặc nơi mình từng sống không?

 

K: Không.

 

D: Chuyện gì đã xảy ra với cha anh?

 

K: Ông ấy qua đời. Ông ấy ho đến chết. (Buồn bã.) Ông ấy bị bệnh trong một thời gian dài.

 

D: Điều đó có khiến việc đi đây đi đó cùng ông ấy trở nên khó khăn không?

 

K: Đôi khi. Rồi đến lúc ông ấy thậm chí không thể hát được nữa.

 

D: Khi chuyện đó xảy ra, anh còn rất trẻ không?

 

K: (Do dự.) Tôi đoán là hai mươi ba tuổi.

 

D: Vậy lúc đó anh không còn là một cậu bé nữa.

 

K: Không.

 

D: Ông ấy đã dạy anh rất nhiều thứ, phải không?

 

K: Ồ, đúng vậy.

 

D: Khi anh đi đây đi đó, có những con đường mà anh sử dụng để đến những nơi khác nhau không?

 

K: Đôi khi có đường, đôi khi cô phải tự tìm đường đi. Có khi chỉ có những lối mòn. Nếu cô biết cuối cùng mình muốn đi đến đâu, ít nhất cô còn có thể hỏi đường.

 

D: Và anh cũng thường xuyên quay đi quay lại những nơi giống nhau, phải không?

 

K: Thường là vậy.

 

D: Anh có thích cuộc sống của mình không?

 

K: Cũng không tệ. Ít nhất tôi có thức ăn để bỏ vào miệng và thường có một nơi ấm áp để ngủ.

 

D: Vậy anh còn có thể mong muốn gì hơn nữa? Tôi cảm ơn anh đã nói chuyện với tôi, và cảm ơn anh đã hát những bài hát cho tôi nghe. Tôi thực sự thích chúng. Tôi có thể quay lại vào lúc nào đó và nói chuyện với anh nữa không?

 

K: Nếu cô sẵn lòng ngồi nghe tôi lải nhải, thì tôi nghĩ là được.

 

D: (Cười khẽ.) Ồ, tôi thích mà. Đối với tôi, nó rất thú vị. Được rồi. Một lần nữa, cảm ơn anh đã nói chuyện với tôi.

 

Điều duy nhất Karen có thể liên hệ với cuộc đời này là khả năng hát và chơi guitar của cô ấy. Khi còn rất trẻ, cô phát hiện mình có thể chơi guitar một cách tự nhiên mà không cần học. Cô cũng thường thấy mình tự nghĩ ra những bài hát rồi hát chúng trong lúc làm việc nhà, mà hoàn toàn không biết chúng xuất phát từ đâu. Một mảnh nhỏ còn sót lại của O’Keefe dường như vẫn tồn tại và lọc qua để đi vào cuộc đời hiện tại của cô.

 

Sau khi Karen rời Fayetteville và chuyển đến Little Rock, chúng tôi chỉ còn liên lạc với nhau qua thư từ hoặc điện thoại. Vào ngày này, tôi phải đến Little Rock để dự một hội nghị, và chúng tôi sắp xếp gặp nhau tại khách sạn của tôi để thực hiện một buổi thôi miên. Mối quan tâm chính của tôi là liên lạc lại với người hát rong và hy vọng có thể nghe thêm một số bài hát. Tôi cũng cảm thấy câu chuyện của anh ta vẫn còn vài chỗ chưa rõ mà tôi muốn hỏi thêm. Từ khóa của Karen hoạt động rất hiệu quả, mặc dù đã khoảng hai năm kể từ lần cuối chúng tôi làm việc cùng nhau. Cô ấy lập tức đi vào trạng thái thôi miên sâu.

 

Khi tiếp tục, tôi yêu cầu cô ấy tiến tới một ngày quan trọng. Cô mất khá lâu mới trả lời. Khi lên tiếng, cô có vẻ chán nản. Dường như có chuyện gì đó không ổn.

 

K: Họ... không thích điều tôi hát về và... làm sao tôi biết được chứ? (Thở dài thật sâu.)

 

D: Ai không thích điều anh hát?

 

K: À, Brock. (Phiên âm, nhưng tên này không rõ.) Ông ta... tôi hát một bài về... ồ, một người nào đó, tôi không nhớ tên ông ta. Dù sao thì bài hát nói về một chiến công vĩ đại mà ông ta đã thực hiện, rồi chuyện này chuyện kia. Nhưng cuối cùng tôi mới biết ông ta là kẻ thù của những người sở hữu thành trì này. Và họ không thích điều đó.

 

D: Ồ. Đó là một sai lầm, phải không?

 

K: Đúng. Lẽ ra tôi phải biết rõ hơn. Có lẽ tôi nên để ý nghe ngóng nhiều hơn một chút.

 

D: Chuyện gì đã xảy ra?

 

K: (Thở dài.) Ồ, họ nói sáng mai họ sẽ... chặt đầu tôi.

 

D: Chỉ vì chuyện đó thôi sao?

 

K: Ồ, người ta từng bị giết chỉ vì những chuyện còn nhỏ nhặt hơn thế.

 

D: Anh đang ở đâu?

 

K: Có vẻ như đang ở đâu đó dưới tầng thấp nhất của thành trì. Ở đây khá tối. Chúng tôi đi xuống những bậc thang dẫn xuống dưới, và... tất nhiên họ có mang theo những ngọn đuốc nên lúc đó chúng tôi vẫn nhìn thấy đường.

 

D: Họ không cho anh cơ hội xin lỗi hay nói rằng anh rất tiếc sao?

 

K: Họ không muốn người ta xin lỗi. Họ không nghĩ một người đàn ông phải xin lỗi về những việc mình đã làm, vì vậy họ sẽ không cho tôi cơ hội đó.

 

D: Anh cảm thấy thế nào về chuyện này?

 

K: (Im lặng.) Chà... thất vọng. Không thể nói rằng tôi muốn chuyện này xảy ra. Tôi chưa bao giờ nghĩ mình sẽ mất đầu vì một chuyện như thế này.

 

D: Bây giờ anh bao nhiêu tuổi?

 

K: Ồ, ba mươi lăm rồi, cũng bắt đầu lớn tuổi rồi. Tôi nghĩ như vậy cũng không quá tệ.

 

D: Anh vẫn có thể đi lại và làm tất cả những điều mình muốn, phải không?

 

K: Đúng. Nhưng bây giờ than thở cũng chẳng ích gì. Tôi chẳng thể làm được gì nhiều về chuyện này.

 

D: Có ai khác ở dưới đó với anh không?

 

K: Tôi nghe thấy vài tiếng động ở hướng đó, nhưng nghe qua thì có vẻ ông ta không còn tỉnh táo lắm. Ông ta chỉ rên rỉ và cứ như vậy.

 

D: Và anh không nghĩ họ sẽ chỉ giam anh ở đó như một tù nhân sao?

 

K: Tại sao họ phải nuôi tôi? Nếu họ chặt đầu tôi thì họ không cần phải cho cái bụng này ăn nữa, vậy nên... Cách này còn tốt hơn. Tôi thà ra đi ngay còn hơn ngồi dưới này hàng tháng trời rồi chết dần chết mòn.

 

D: Điều đó cũng có lý. Nhưng đây đâu phải lỗi của anh. Anh thực sự không có cách nào biết được chuyện đó.

 

K: Lẽ ra tôi phải khôn ngoan hơn.

 

D: Đó là những người không nên đến hát cho. Trước đây anh đã từng đến thành trì đó chưa?

 

K: Chưa. Tôi chưa từng đến đây. Nhưng cô còn mong đợi gì ở những người phương bắc này chứ? Dù sao họ cũng là một lũ ngoại đạo, nên...

 

D: Ồ, vậy anh đang ở phía bắc của Erin.

 

K: Đúng.

 

D: Thành trì đó tên gì? Tôi muốn tránh xa nơi đó.

 

“Tôi yêu cầu cô ấy lặp lại cái tên ba lần. Đó là một cái tên rất khó giải mã. Âm thanh nghe giống như: Tyrag, Tyrug, Tyrod? (Phiên âm.)

 

D: Tôi muốn tránh xa nơi đó. Tôi không nghĩ đó là những người mà mình muốn đến gặp. Được rồi, hãy rời khỏi cảnh này và tiến tới thời điểm sau khi mọi chuyện xảy ra vào buổi sáng.

 

“Tôi không thấy có lý do gì phải bắt cô ấy trải qua cảnh bị chặt đầu. Tôi không phải là người thích hành hạ người khác.”

 

D: Và bây giờ anh có thể nhìn lại chuyện đó. Việc nhìn lại và kể về nó sẽ không khiến anh khó chịu, bởi vì nó đã xảy ra rồi. Tôi sẽ đếm đến ba. Một, hai, ba. Mọi chuyện đã xảy ra rồi. Anh có thể kể cho tôi nghe về nó không?

 

K: Họ lấy một thanh kiếm lớn rồi... đặt đầu tôi lên khúc gỗ... và... chém xuống.

 

D: Ai làm việc đó?

 

K: Một trong những người lính canh. Tôi không thực sự chắc chắn.

 

D: Vậy họ không để anh ở dưới đó quá lâu, phải không?

 

K: Không. Như vậy cũng tốt hơn. Đó không phải là nơi tốt để chết. Ít nhất họ còn cho tôi nhìn thấy ánh nắng mặt trời thêm một lần nữa.

 

D: Sau đó họ đưa anh ra sân sao?

 

K: Đúng.

 

D: Nhưng đó là một cuộc đời hạnh phúc, phải không?

 

K: Đó là một cuộc đời rất vô tư, không nhiều lo toan.

 

D: Vậy anh cảm thấy thế nào về chuyện đó? Anh có tức giận không?

 

K: Đó là một món nợ mà tôi phải trả. Như vậy là công bằng.

 

D: Anh có biết mình phải trả món nợ gì không?

 

K: Đó là vì một sự bất công trong quá khứ và... luôn có sự sống đổi lấy một sự sống, và chuyện này mang một ý nghĩa như vậy.

 

D: Ý anh là chuyện xảy ra với anh là để trả lại một điều đã xảy ra trong chính cuộc đời này, hay từ một nơi nào khác?

 

K: Từ trước đó.

 

D: Và bây giờ, sau khi một lần nữa rời khỏi cơ thể, anh biết điều đó sao?

 

K: Đúng.

 

D: Anh có biết nó được cho là để trả lại điều gì không? Hay anh vẫn chưa có được kiến thức đó?

 

K: Ừm. Tôi chỉ biết đó là để trả cho một điều gì đó cũng khủng khiếp tương đương. Tôi không nhớ.

 

D: Đó là điều anh đã làm trong một kiếp trước, và bây giờ anh phải hoàn trả theo cách này sao?

 

K: Đúng.

 

D: Tôi hiểu. Đúng vậy, mọi chuyện vận hành như thế, phải không? Ít nhất anh không mang sự tức giận theo mình. Không có sự tức giận hay cảm giác trả thù là điều rất tốt. Anh hiểu chuyện gì đã xảy ra.

 

“Cô ấy không còn nói bằng giọng Ireland quyến rũ nữa. Giọng nói bình thường của Karen đã trở lại.”

 

K: Tức giận là một cách phản ứng vô ích trước một điều gì đó. Sự tức giận khiến rất nhiều nghiệp được tạo ra. Nếu sự tức giận hoàn toàn lấn át một người, nó sẽ mang chính nó từ quá khứ sang hiện tại và gây ra không gì khác ngoài những vấn đề.

 

D: Thật tốt là lần này anh đã không làm như vậy. Vậy là anh đã học được một điều gì đó.

 

Chúng tôi rời khỏi cảnh đó, và tôi đưa cô ấy lùi lại thêm một trăm năm nữa. Cô ấy đi vào cuộc đời mà sau này tôi gọi là “người phụ nữ với chim ưng”. Đó là một người phụ nữ sống trong một pháo đài ở Ý và đi săn cùng một con chim ưng. Cuộc đời này chứa đựng rất nhiều thông tin về thời đại đó, cũng như về nghệ thuật huấn luyện và sử dụng chim ưng để săn mồi. Sự chuyển đổi từ người hát rong sang người phụ nữ diễn ra ngay lập tức và hoàn toàn, giống như tất cả những lần hồi quy khác với Karen.

 

Tôi nghĩ âm nhạc trong cuốn băng này rất quan trọng, cũng như việc cô ấy hát bằng một ngôn ngữ khác. Tôi muốn một chuyên gia kiểm tra điều này, nếu có thể tìm được một người am hiểu về vấn đề này.

 


Đăng nhận xét