Swaruu Transcripts 099
Thông
tin thêm về virus – Một bác sĩ người Tây Ban Nha đặt câu hỏi với Swaruu
28-05-2020
👉 Tóm
tắt nội dung: Bài viết trình bày quan điểm của Swaruu về bản chất của virus, ECS (Chất
tiết ngoại bào), vắc xin và vai trò của trường điện từ trong các hiện tượng được
cho là bệnh lý. Theo nội dung, virus được mô tả là tín hiệu sinh học có sẵn
trong ADN và ARN, đóng vai trò truyền thông tin giữa các tế bào và phản ứng trước
môi trường độc hại, thay vì là tác nhân gây bệnh từ bên ngoài. Bài viết cũng đề
cập đến cơ chế miễn dịch, kháng thể, ECS, kim loại nặng, công nghệ nano trong vắc
xin, tác động của bức xạ điện từ, mạng 5G, truyền thông toàn cầu và cách những
yếu tố này được cho là liên quan đến đại dịch COVID-19 dưới góc nhìn của
Swaruu. Nội dung được trình bày dưới hình thức đối thoại hỏi đáp giữa Alex và
Swaruu, tập trung giải thích mô hình hoạt động của ECS, phản ứng sinh học và
các lập luận xoay quanh nguyên nhân của bệnh tật và dịch bệnh.
---------
Alex: Nếu ECS (Chất tiết ngoại bào – Extra
Cellular Secretions) là một hệ thống báo động mà nhìn trên tổng thể DƯỜNG NHƯ
mang lại nhiều tác động tiêu cực hơn tích cực, thì lợi ích chính của hệ thống
này là gì?
Swaruu: Không cần xác định nó là tích cực hay
tiêu cực, nó đơn giản chỉ thực hiện chức năng truyền thông tin giữa các tế bào,
dù là bên trong chính một cá thể hay giữa các tế bào của những cá thể khác, nhằm
tạo ra vô số phản ứng khác nhau. Những phản ứng đó có thể khiến nhóm tế bào tiếp
nhận phản ứng trước một tác nhân kích thích từ bên ngoài hoặc không phản ứng.
Chức năng chủ yếu của nó là báo động trước một môi trường thù địch, từ đó kích
hoạt phản ứng hành vi, hoặc là bên trong cơ thể dưới dạng phản ứng miễn dịch,
hoặc là thay đổi hành vi bên ngoài của cá thể để tránh xa điều gây ra phản ứng
bất lợi.
Alex: Có phải ECS là một cách để loại bỏ những
cá thể bị bệnh nhằm giúp cả nhóm duy trì trạng thái khỏe mạnh và mạnh mẽ?
Swaruu: Một phần là đúng. Trong một quần thể,
nếu tình trạng độc hại của môi trường phát sinh do số lượng cá thể của cùng một
loài tăng quá mức, chúng sẽ rơi vào vòng xoáy mất cân bằng với môi trường bên
ngoài đang nuôi dưỡng chúng, dẫn đến cạn kiệt nguồn tài nguyên.
Ví
dụ, ở một loài thực vật cụ thể nuôi sống một quần thể côn trùng. Chúng tôi nhận
thấy loài thực vật đó tiết ra một ECS kích hoạt một phản ứng trong các tế bào của
côn trùng. Điều này tiếp tục kích hoạt phản ứng miễn dịch, sau đó các tế bào lại
giải phóng ECS mang đặc trưng của loài côn trùng, tạo ra tác động có hại đối với
toàn bộ quần thể. Những cá thể yếu nhất hoặc già nhất sẽ chết trước, qua đó
khôi phục lại sự cân bằng của hệ sinh thái. (Đây không phải là trường hợp của
COVID-19 đối với con người, mặc dù rất dễ khiến người ta liên hệ như vậy.)
Alex: Nếu ECS thực sự chỉ là những tín hiệu
báo động, tại sao cơ thể lại xây dựng hệ thống phòng vệ bằng cách tạo ra kháng
thể để chống lại chính tín hiệu đang cảnh báo về mối nguy hiểm? Có phải đó chỉ
là một cơ chế kiểm soát nhằm loại bỏ tín hiệu khi nó không còn cần thiết?
Swaruu: Chính xác. Phản ứng miễn dịch của cơ
thể là hệ thống vô hiệu hóa đối với một tín hiệu mà cơ thể đã phát hiện và quyết
định không tiếp tục duy trì hay tuân theo nữa.
Đây
cũng chính là vấn đề và sự nguy hiểm của các loại vắc xin chống virus, vì chúng
thường kích hoạt chính căn bệnh mà ban đầu chúng được tạo ra để phòng ngừa.
Một
ví dụ là vắc xin cúm, được tiêm cho hơn 40% dân số, và có bằng chứng cho thấy
nó gây tử vong cho nhiều người hơn chính đợt dịch đã dẫn đến việc phát triển loại
vắc xin đó.
Một
ví dụ khác là vắc xin chống virus HPV ở người, được tiêm cho các bé gái dưới 10
tuổi cũng như phụ nữ ở mọi độ tuổi. Theo tỷ lệ vượt quá 90% (chín mươi phần
trăm), nó gây ra chính căn bệnh đó với những hậu quả nghiêm trọng và vĩnh viễn,
như mang tình trạng tiềm ẩn suốt đời, vô sinh và tỷ lệ tử vong ở những người được
tiêm vượt quá 20% (cứ 5 bé gái dưới 10 tuổi thì có 1 em tử vong sau khi tiêm loại
vắc xin này tại Vương quốc Anh trong ba năm gần đây; thông tin nghiêm trọng này
phần lớn đã bị truyền thông che giấu).
Alex: Việc đưa nhân tạo các mảnh ECS vào cơ
thể (tiêm chủng) có thể mang lại lợi ích trong một số trường hợp hoặc bệnh cụ
thể hay không?
Swaruu: Với bản chất của các loại vắc xin chứa
các mảnh ECS, người ta không thể xác định hoàn toàn chính xác bản chất cũng như
kết quả của từng loại mảnh, thậm chí ngay cả định nghĩa của chính mảnh đó.
Điều
này để ngỏ khả năng rằng một phần ECS thực sự được tế bào thụ thể đọc và kích
hoạt. Nhưng cũng có thể khiến thông điệp ECS bị méo mó hoặc không đầy đủ, làm
cho tế bào phát động một phản ứng ngoài dự kiến với những hậu quả cực kỳ nguy
hiểm.
Kết
quả của việc sử dụng vắc xin cúm và vắc xin HPV ở người cho thấy rất rõ rằng
nguyên lý của vắc xin không có hiệu quả đối với virus như đối với những sinh vật
gây bệnh phức tạp hơn, chẳng hạn các vi sinh vật có kích thước lớn.
Trả
lời trực tiếp câu hỏi của bạn, virus tự thân không là gì khác ngoài một chất tiết
ECS. Nó là phản ứng hoặc triệu chứng, chứ không phải nguyên nhân của vấn đề. Vì
vậy, việc phát triển vắc xin chỉ nhằm che giấu nguyên nhân thực sự của vấn đề
đó, đồng thời làm lan rộng quá mức sự tạo thành ECS trong một quần thể.
Tôi
không khuyến nghị sản xuất bất kỳ loại vắc xin nào chống lại virus hoặc ECS, vì
hai thứ đó thực chất là một.
Alex: Tóm lại, ECS thực sự hoạt động như thế
nào và mang lại những lợi ích gì cho cá thể cũng như cả nhóm?
Swaruu: Virus không đến từ bên ngoài; chúng vốn
đã có sẵn trong ADN và ARN của mỗi tế bào.
Mã
ECS hay "virus" được giải phóng khi ADN và ARN bị phân hủy bởi một
tình trạng độc hại bên trong, chẳng hạn như sóng điện từ.
Chúng
là phương tiện truyền thông tin giữa các tế bào, dù là trong cùng một cơ thể
hay là phương tiện giao tiếp giữa các cá thể cùng loài trong một quần thể, cũng
như giữa các loài sống gần nhau. Chúng là cách để tế bào loại bỏ vật liệu di
truyền đã bị hư hỏng, như một phương pháp tự bảo vệ và tự chữa lành.
Chỉ
riêng Chất tiết ngoại bào này cũng đủ để kích hoạt phản ứng báo động trong các
tế bào xung quanh, báo hiệu rằng có điều gì đó đã tác động đến tế bào đã tiết
ra ECS.
Mọi
sinh vật sống đều là một phần của một cộng đồng, nơi tất cả đều ảnh hưởng lẫn
nhau. Cộng đồng gồm vô số loài sinh vật này cùng tồn tại trong trạng thái cân bằng
và cộng sinh. ECS cung cấp phương tiện giao tiếp giữa tất cả chúng.
Việc
một ECS gây ra vấn đề cho một loài chỉ là triệu chứng của sự mất cân bằng với
môi trường xung quanh, đồng thời cũng là dấu hiệu cho thấy môi trường mà chúng
đang sinh sống đã trở nên độc hại.
Khi
nói độc hại, tôi không chỉ muốn nói đến những hợp chất hóa học gây hại cho cá
thể và các tế bào của họ, mà còn bao gồm cả một môi trường gây căng thẳng tâm
lý. Đây mới là yếu tố nền tảng quyết định một cá thể sẽ diễn giải tín hiệu ECS
như một tín hiệu báo động hay đơn giản là vô hiệu hóa nó bằng hệ miễn dịch của
mình, xem đó là một tín hiệu không đáng quan tâm (quá trình hình thành kháng thể).
Đây
chính là vấn đề với các loại vắc xin kháng virus. Chúng không nhất thiết tạo ra
kháng thể, nhưng nếu điều kiện bên ngoài và trạng thái tâm lý của người được
tiêm phù hợp với thông điệp của ECS, chúng sẽ kích hoạt bệnh lý.
Trong
mọi trường hợp, phản ứng hay "căn bệnh" đó vốn đã được lưu trữ trong
mã di truyền của mỗi cá thể thông qua ký ức.
Ở
đây tôi phải nhấn mạnh rằng yếu tố tâm lý, hay yếu tố ý thức của tâm trí, mới
là yếu tố đóng vai trò nền tảng trong việc diễn giải ECS.
ECS
là cần thiết để duy trì sự cân bằng trong một cơ thể, trong một quần thể cùng
loài và trong toàn bộ môi trường sống nói chung.
Alex: Tôi đồng ý với điều Anéeka đã nói, rằng
"đại dịch" này là chiến dịch cờ giả lớn nhất trong lịch sử nhân loại.
Trên Trái Đất, không một người bình thường nào dám nghi ngờ hay phủ nhận rằng
đang tồn tại một đại dịch toàn cầu cực kỳ nghiêm trọng. MÀN KỊCH HỌ ĐÃ DÀN DỰNG
THẬT SỰ HOÀN HẢO.
Swaruu: Nó có vẻ hoàn hảo, nhưng thực ra không
phải vậy. Ngay cả những người không có bất kỳ kiến thức y khoa nào cũng nhận thấy
có nhiều điều không khớp, rằng các số liệu thống kê không phù hợp với số người
tử vong cũng như với những gì được chia sẻ trên internet và trên các bản tin. Vì
không có lời giải thích nào khác nên người ta chấp nhận sự tồn tại của loại
virus đó, nhưng đồng thời lại cho rằng các chính phủ đang che giấu thông tin.
Họ
cũng nói rằng loại virus đó đang đột biến. Tôi cho rằng những "đột biến"
đó đơn giản chỉ là sự thay đổi di truyền tự nhiên của quần thể con người kết hợp
với sự thay đổi của môi trường hay nơi sinh sống, từ đó làm thay đổi bản chất của
tín hiệu ECS được phát ra.
Yếu
tố "n": Sự thao túng của các phương tiện truyền thông đại chúng, vốn
đã phóng đại vấn đề ở mức độ khác nhau tùy từng quốc gia. Nhưng điều nghiêm trọng
nhất là họ đã phóng đại bức tranh tổng thể của vấn đề một cách cực đoan dưới
danh nghĩa tình trạng khẩn cấp về y tế, qua đó tạo ra sự hoảng loạn trên diện rộng.
Điều
này là đúng. Ở đây cũng vậy, vấn đề là người bình thường không hề biết rằng tin
tức trên toàn bộ hành tinh có thể bị kiểm soát và đồng bộ hóa bởi một nhóm người
duy nhất. Họ cũng không tin rằng có thể tồn tại mức độ xấu xa và lòng tham như
vậy, bởi vì họ chỉ lấy chính bản thân mình và những người trong cộng đồng của họ
làm tiêu chuẩn. Họ nghĩ rằng nếu bản thân họ không thể có đủ sự suy đồi về đạo
đức để thực hiện một hành động khủng khiếp như thế, thì các chính phủ cũng sẽ
không làm vậy. Đáng tiếc là họ có thể, và họ đã làm điều đó trong nhiều thế kỷ.
Sự
thật là các phương tiện truyền thông đều được kiểm soát, vừa bằng con người vừa
bằng AI tiên tiến vượt quá khả năng hiểu biết của người bình thường. Nói cách
khác, mọi người mù quáng tin tưởng tất cả những gì họ nghe thấy trên các phương
tiện truyền thông chính thống, trong khi chính "họ" lại là những người
đang phát tán thông tin sai lệch nhằm thực hiện chương trình nghị sự kiểm soát
và/hoặc diệt chủng.
Alex: Có khả năng các thế lực tiêu cực sử dụng
công nghệ nano (được phát tán thông qua chemtrail, các đợt tiêm phòng cúm hằng
năm lặp đi lặp lại), sau đó được tăng cường tác động nhờ công nghệ 5G, kim loại
nặng...
Swaruu: Đúng vậy, tất cả các loại vắc xin đều
chứa kim loại nặng, và danh sách đó rất dài. Họ nói rằng chúng được sử dụng làm
chất bảo quản cho vắc xin. Ví dụ, tôi từng thấy một tuyên bố cho rằng việc sử dụng
thủy ngân trong vắc xin giúp ức chế virus bên trong, giữ nó ở trạng thái tiềm ẩn
và không hoạt động. Nhưng mọi kim loại đều gây ra những tác động cực kỳ có hại
đối với cơ thể sống. Gần như không thể loại bỏ chúng một khi đã được tiêm vào
cơ thể. Mặc dù nhiều người khẳng định là có thể, nhưng tôi chưa tìm thấy bất kỳ
bằng chứng nào cho thấy các phương pháp thanh lọc hoặc giải độc thực sự có hiệu
quả, hoặc có hiệu quả đáng kể đối với kim loại nặng. Tôi chỉ có thể khuyên rằng
bạn đừng tiêm bất kỳ loại vắc xin nào nữa, bởi vì không thể biết được thực sự
bên trong ống tiêm đó có chứa những gì. Tôi không thể nhấn mạnh điều này đủ mạnh.
Sự hiện diện của kim loại nặng trong vắc xin nhằm làm tăng mức độ phản ứng và độ
nhạy của cơ thể con người trước các trường điện từ.
Việc
sử dụng hoặc đưa các vi mạch nano, công nghệ nano vào vắc xin đã có từ năm
1997. Chúng xuất hiện trong mọi mẫu vắc xin mà chúng tôi đã kiểm tra. Việc sử dụng
vắc xin để chống lại một căn bệnh nào đó, xét về mặt ý tưởng, có phải là một ý
tưởng tốt hay không không phải là vấn đề ở đây. Vấn đề là những gì họ đang tiêm
vào dân số loài người không phải là vắc xin; đó là những mũi tiêm cưỡng bức, sử
dụng khái niệm tiêm chủng y tế như một cái cớ cho một "con ngựa thành
Troy".
Đối
với những người thực sự bị bệnh và không thuộc bộ máy tuyên truyền sai lệch của
truyền thông, vấn đề là ngộ độc do bức xạ điện từ ở dải tần từ 600 MHz đến 6
GHz. Dải tín hiệu điện từ này làm thay đổi khả năng hấp thụ oxy cũng như mối
quan hệ sinh hóa của oxy với huyết sắc tố (hemoglobin). Hemoglobin ngừng vận
chuyển oxy vì phân tử oxy trở nên mất ổn định khi các electron cấu thành nó bắt
đầu rung động và quay. Về cơ bản, người đó không thể hô hấp được. Tình trạng
này tương tự như say độ cao khi cố gắng hít thở ở độ cao trên 8.000 mét mà
không có sự chuẩn bị trước. Việc thiếu oxy gây hoại tử tế bào ở nhiều vị trí,
trước tiên tập trung ở vùng phổi. Điều này dẫn đến sự sụp đổ của hệ thống tiếp
nhận oxy và tạo điều kiện cho các bệnh nhiễm trùng cơ hội xuất hiện. (Xem khoa
học sinh học từ tính.)
Một
bệnh nhân trong tình trạng như vậy sẽ được đặt vào máy thở nhân tạo buộc phổi
phải phồng lên và xẹp xuống. Nhưng vì các cấu trúc bên trong phổi đã suy yếu và
bị tổn thương, máy thở này chỉ làm gia tăng tổn thương bên trong phổi bằng cách
gây ra nhiều vết rách nội bộ, khiến tình trạng hư hại càng nặng hơn, làm phổi
ngập dịch (giàu các tín hiệu báo động ECS) và cuối cùng, trong nhiều trường hợp,
dẫn đến tử vong do xuất huyết nội.
Những
triệu chứng đầu tiên của việc phơi nhiễm bức xạ, dù là bức xạ điện từ hay bức xạ
ion hóa từ các đồng vị phóng xạ, đều giống hệt bệnh cúm thông thường: cảm thấy
đau nhức toàn thân, sốt, suy nhược, ho khan hoặc ho có đờm, tiết dịch nhầy và
xuất hiện các bệnh nhiễm trùng cơ hội, cùng nhiều triệu chứng khác.
Cộng
đồng y khoa đang nhầm lẫn tình trạng ngộ độc bức xạ với virus. Loại bức xạ này
nằm trong dải tần từ 600 MHz đến 6 GHz, vốn được hệ thống 5G sử dụng. Cũng cần
nhắc rằng tần số 5G có hai mục đích sử dụng: một là cho dân sự và hai là cho vũ
khí cũng như thông tin liên lạc quân sự, vốn đã được sử dụng trong hầu như toàn
bộ các lực lượng lục quân, không quân và hải quân trên Trái Đất.
Đúng
như dự đoán, tất cả những người khỏe mạnh và có thể trạng tốt, như những gì thường
thấy ở binh lính, sẽ là những người mất nhiều thời gian nhất để xuất hiện các
triệu chứng ngộ độc. Tuy nhiên, cuối cùng tất cả mọi người đều sẽ phải chịu những
hậu quả giống nhau. Chỉ còn là vấn đề về thời gian phơi nhiễm, khoảng cách và
cường độ của nguồn phát bức xạ điện từ.
Người
ta cũng phát hiện rằng bức xạ điện từ có tính tích lũy, nghĩa là cần phải tiếp
xúc lặp đi lặp lại trong một khoảng thời gian thì các triệu chứng và vấn đề đầu
tiên mới bắt đầu xuất hiện. Điều này không chỉ áp dụng cho các tần số khoảng 60
GHz hay 5G, mà còn với mọi dải điện từ khác như 4G, 3G, 2G, Wi-Fi, radar, máy
phát vô tuyến, lò vi sóng và thậm chí cả việc ở gần các đường dây điện cao thế.
5G
cũng đang được truyền từ các vệ tinh, phát bức xạ đến toàn bộ dân số trên thế
giới. Nó có thể được sử dụng để khiến một nhóm dân cư cụ thể bị bệnh, vì họ
không biết điều gì đang xảy ra hoặc thậm chí không cho rằng điều đó là khả thi
về mặt kỹ thuật. Họ sẽ chỉ có thể diễn giải các triệu chứng đó là COVID-19.
Các
tổ chức y tế toàn cầu đang truy lùng bệnh cúm thông thường và gán cho nó cái
tên COVID-19, vì người ta nói rằng chúng có cùng các triệu chứng. Các xét nghiệm
phát hiện COVID-19 cực kỳ đơn giản và không thể phân biệt được giữa COVID-19 và
bệnh cúm thông thường, vì thực chất chúng là một.
Họ
chỉ đơn giản gộp bệnh cúm thông thường với tình trạng ngộ độc bức xạ, cộng thêm
việc cộng dồn các trường hợp không liên quan và chiến dịch tuyên truyền sai lệch
quy mô lớn của truyền thông.
https://odysee.com/@CosmicAgency:c/more-about-the-viruses-spanish-doctor:f?src=embed
Nếu bạn muốn hiểu
sâu hơn về các khái niệm trong cuộc trò chuyện này, bạn có thể đọc thêm các bài
sau:
- Người
Pleiadians Taygetan nói gì về virus Corona?
- Nỗi sợ
hãi, Vi rút, Tình hình Toàn cầu
- Thông
tin thêm về Virus - Báo cáo mới
- TRỌNG
TÂM: BÂY GIỜ HAY KHÔNG BAO GIỜ
https://www.facebook.com/Go-With-The-Earth-110516891516479/
Xem toàn bộ thư viện bài viết
https://gowiththeearth.blogspot.com/2021/10/tat-ca-sach-co-tai-blogs.html