Swaruu Transcripts 050
Cơ chế biểu hiện 2 - Giới thiệu về Điều hướng ngoài Trái đất (Swaruu de Erra-Pleiades)
01-09-2019
👉 Tóm
tắt nội dung: Bài viết trình bày quan điểm của Swaruu về bản
chất của thực tại, ý thức và cách các nền văn minh ngoài Trái Đất thực hiện điều
hướng liên sao. Theo nội dung này, mọi vật thể, địa điểm và sự kiện đều là các
mô thức năng lượng được xác định bởi tần số và các bội điều hòa (sóng hài)
trong trường ý thức hợp nhất gọi là ether. Thay vì sử dụng bản đồ vị trí truyền
thống, các phi thuyền tiên tiến điều hướng bằng “bản đồ tần số”, trong đó mỗi
hành tinh, địa điểm hay tình huống đều có một dấu hiệu tần số độc nhất.
Bài viết cũng giải thích mối liên hệ giữa ý
thức, nhận thức, thời gian và sự biểu hiện thực tại. Theo mô hình này, quá khứ,
hiện tại và tương lai chỉ là các cấu trúc tần số có thể được mô tả bằng toán học.
Khi hiểu được các mối quan hệ giữa tần số và các bội điều hòa (sóng hài), các nền
văn minh tiên tiến có thể dự đoán sự kiện, mô phỏng các bối cảnh thực tại, thậm
chí dịch chuyển vật thể hoặc phi thuyền từ vị trí này sang vị trí khác bằng
cách đồng bộ hóa tần số với điểm đến.
Nội dung kết hợp các chủ đề về vật lý lượng tử,
ý thức, Luật Hấp Dẫn, Luật Gương, trường ether, điều hướng ngoài Trái Đất và
công nghệ máy tính lượng tử tiên tiến, nhằm mô tả một mô hình thực tại nơi ý thức
và tần số là nền tảng của mọi sự tồn tại.
---------
Swaruu
(9): Trong
bài “Điều Hướng Sao”, tôi đã mô tả cách chúng tôi điều hướng bằng bản đồ tần số
chứ không phải bản đồ vị trí. Trong một bản đồ tần số, điều quan trọng là mối
quan hệ giữa các tần số cụ thể được dùng làm điểm đến hoặc vị trí, chứ không phải
các khái niệm như khoảng cách và phương hướng như trong một bản đồ truyền thống.
Một tần số với
tư cách là một vị trí không chỉ đại diện cho vị trí đó giống như một dấu chấm
kèm tên trên bản đồ thông thường; bản thân nó chính là vị trí đó. Vì mọi thứ đều
là năng lượng, nên điểm khác biệt duy nhất giữa vị trí này và vị trí khác chính
là tần số của chúng. Như chúng tôi đã mô tả trước đây, tần số của một địa điểm
là kết quả của sự kết hợp giữa tất cả các tương tác năng lượng, không chỉ của
các vật thể và sự vật trong địa điểm đó mà còn của mối liên hệ với các địa điểm
xung quanh nó, bên trong một đại dương liên tục của năng lượng tiềm năng dưới dạng
sóng. Mỗi vật thể, dù lớn hay nhỏ, đều dao động theo một nhịp điệu cụ thể ở cấp
độ hạ nguyên tử, và tốc độ dao động đó chính là thứ chúng tôi gọi là mật độ.
Vật chất luôn là
kết quả của ý thức và là hệ quả của ý thức. Trường năng lượng tiềm năng có dao
động siêu cao và mật độ siêu cao mà chúng tôi gọi là ether, thực chất không gì
khác ngoài ý thức hợp nhất thuần khiết, trường hợp nhất mà từ đó mọi thứ khác
xuất hiện hoặc được biểu hiện ra. Mỗi mảnh toàn ảnh của trường ý thức hợp nhất,
ether, đều có sức mạnh giống như toàn thể và đồng thời chính là toàn thể đó. Mỗi
dạng sống, mỗi ý thức của một cá nhân không chỉ là một phần của ether mà còn
chính là ether. Điều này định nghĩa thuật ngữ “mảnh toàn ảnh” là một thứ tuy là
một phần của tổng thể nhưng vẫn giữ nguyên tất cả các thuộc tính và sức mạnh của
toàn thể đó.
Mọi thứ trong
ether vận hành và tồn tại dưới dạng những dao động và biến thiên năng lượng
trong trường; đó chính là các mô thức sóng. Mỗi làn sóng đều được xác định bởi
đỉnh sóng và đáy sóng chuyển động theo một tốc độ thời gian cụ thể; điều này được
gọi là tần số. Và tần số của một làn sóng được xác định bởi một khung thời gian
do ý thức của người quan sát tạo ra và cũng là kết quả của ý thức đó. Khi tần số
của một làn sóng được người quan sát - ý thức gán cho một tốc độ thời gian cụ
thể, với độ phức tạp được bổ sung theo cách hoàn hảo về mặt toán học và có trật
tự, điều này được gọi là các bội điều hòa (sóng hài) của tần số đó. Điều này xảy
ra như kết quả của một ý định có ý thức được lặp lại liên tục bởi người quan
sát, một mô thức tư duy xuất phát từ quá trình tưởng tượng sáng tạo.
Khi các bội điều
hòa (sóng hài) của một tần số có đủ năng lượng duy trì ổn định và thuộc đúng loại,
chúng sẽ hình thành các sóng dừng. Đó là những điểm trong trường năng lượng nơi
một phần năng lượng tập trung không bị hấp thụ trở lại vào trường sóng năng lượng
tiềm năng nữa, bởi vì các bội điều hòa (sóng hài) của tần số liên tục cung cấp
năng lượng cho điểm cụ thể đó theo một nhịp độ cực kỳ chính xác, khiến nó luôn
hiện diện và luôn được nạp năng lượng. Điều này tạo thành một điểm năng lượng tập
trung trong trường. Điểm đó được gọi là một nút, và khi được bổ sung đủ độ phức
tạp, nó sẽ hình thành một vật thể mà chúng ta gọi là vật chất rắn. Tùy thuộc
vào các bội điều hòa (sóng hài) của tần số, vật chất đó sẽ hình thành thành một
vật thể cụ thể. Tuy nhiên, sự tồn tại của nó luôn phụ thuộc vào tần số và các bội
điều hòa (sóng hài) được tạo ra bởi nguyên nhân sinh ra chúng: ý thức của người
quan sát.
Định nghĩa các bội
điều hòa (sóng hài) của một tần số là chuỗi xung có trật tự bên trong một trường
năng lượng tiềm năng, thì mọi tần số và các bội điều hòa (sóng hài) của nó đều
phụ thuộc vào một tốc độ thời gian. Tốc độ thời gian này là kết quả của những
thay đổi trong ý định và sự chú ý của ý thức quan sát. Thời gian là kết quả của
nhận thức của người quan sát - ý thức khi nó làm sinh động các khái niệm và ý
tưởng của mình bằng cách sắp xếp chúng thành một trình tự; chính các ý tưởng của
nó mang lại ý nghĩa và logic cho chúng. Thời gian là một nhận thức được tạo ra
bởi trật tự của các khái niệm trong nhận thức của ý thức quan sát và bởi tốc độ
mà nó sắp xếp các ý tưởng của mình. Nhận thức càng lớn, nó càng có thể quản lý
nhiều khái niệm hơn và với tốc độ cao hơn, bởi điều đó đồng nghĩa với việc xử
lý nhiều dữ liệu nhận thức hơn. Chính nhận thức này sẽ xác định mật độ tồn tại
nào mà ý thức quan sát có thể cảm nhận được. Tốc độ cao hơn này đồng nghĩa với
các bội điều hòa (sóng hài) của tần số nhanh hơn và phức tạp hơn mà ý thức quan
sát có thể tạo ra trong trường năng lượng tiềm năng.
Không hề tồn tại
các mật độ tồn tại như những cõi riêng biệt tách rời nhau. Mật độ là kết quả của
khả năng nhận thức của ý thức quan sát, là tốc độ mà nó có thể xử lý dữ liệu, là
tốc độ mà nó có thể trao cho các bội điều hòa (sóng hài) của tần số mà toàn bộ
vật chất phụ thuộc vào để tồn tại trong nhận thức của ý thức quan sát. Nó không
thể cảm nhận được bất cứ thứ gì có tốc độ hoặc tần số cao hơn tần số của một vật
thể được tạo nên từ các bội điều hòa (sóng hài) cao hơn mức mà ý thức quan sát
có thể làm sinh động và hiểu được trong nhận thức của chính mình. Nhận thức
càng lớn thì càng có thể xử lý nhiều cảm nhận hơn. Càng xử lý được nhiều cảm nhận
thì càng có thể vận hành các bội điều hòa (sóng hài) ở tần số cao hơn, từ đó dẫn
đến khả năng nhận biết được các mật độ tồn tại cao hơn, bởi các cõi mật độ thấp
là kết quả của các bội điều hòa (sóng hài) chậm, và khi tốc độ tăng lên, nó sẽ
dẫn đến các mật độ ngày càng cao hơn.
Và như đã giải
thích ở trên, tốc độ này được quyết định bởi ý thức quan sát. Điều đó có nghĩa
là có bao nhiêu ý thức quan sát thì có bấy nhiêu mật độ tồn tại. Đồng thời, nhiều
ý thức quan sát có thể cùng cảm nhận một thực tại giống nhau do các bội điều
hòa (sóng hài) của tần số của họ tương đồng với nhau. Tương đồng nhưng không
bao giờ hoàn toàn giống nhau, bởi điểm chú ý của mỗi người luôn khác nhau. Điểm
chú ý được định nghĩa là mỗi ý thức quan sát cá nhân đều có dòng tư duy và cảm
nhận riêng của mình; tức là một con người, một sinh thể.
Sự tương tác giữa
các điểm chú ý cá nhân dẫn đến sự cân bằng một phần trong nhận thức giữa họ khi
họ kết hợp các mô thức vốn là các bội điều hòa (sóng hài) của tần số. Điều này
sẽ tạo ra một tập hợp các nút tập trung hoặc các điểm tập trung năng lượng
trong trường năng lượng tiềm năng, và những điểm này được họ cảm nhận như các vật
thể vật chất cấu thành nên “thế giới bên ngoài” chung của họ. Mỗi cá nhân là một
ý thức quan sát, một con người hay sinh thể, vừa đang tạo ra thực tại cá nhân của
mình vừa đang tạo ra thực tại tập thể thông qua việc kết hợp các bội điều hòa
(sóng hài) tần số cá nhân với của những người khác, từ đó tạo ra một bội điều
hòa (sóng hài) tập thể mới, nơi các nút hay điểm năng lượng tập trung hình
thành vật chất rắn là kết quả của sự kết hợp giữa tần số nhận thức cá nhân với
nhận thức của những người khác.
Mỗi ý thức quan
sát sẽ truyền vào trường các bội điều hòa (sóng hài) tần số của riêng mình, rồi
chúng tương tác với các bội điều hòa (sóng hài) của người khác để tạo thành một
“nồi súp tần số”. Khi các bội điều hòa (sóng hài) cá nhân kết hợp với của người
khác, chúng sẽ thay đổi bản chất của mình thông qua các động lực tương tác sóng
gọi là giao thoa triệt tiêu và giao thoa tăng cường. Khi nhiều ý thức quan sát
có cùng một bội điều hòa (sóng hài) tần số, chúng sẽ gia tăng sức mạnh cho nút
hay điểm năng lượng tập trung chung giữa họ; đó là giao thoa tăng cường. Nhưng
khi các bội điều hòa (sóng hài) của họ khác nhau, năng lượng truyền cho nút đó
sẽ giảm xuống hoặc thậm chí bị triệt tiêu hoàn toàn, khiến nó tan biến.
Tất cả các bội
điều hòa (sóng hài) tần số kết hợp với nhau để thiết lập các nút mới hay các điểm
năng lượng tập trung mới. Chúng là kết quả của các tương tác toán học giữa giao
thoa triệt tiêu và giao thoa tăng cường, nơi lượng năng lượng của mỗi bên sẽ hoặc
làm giảm hoặc gia tăng sức mạnh của từng nút hay điểm năng lượng tập trung, từ
đó tạo ra một sự biểu hiện chung hay một thế giới bên ngoài được nhận thức
chung.
Khi một người
hay một sinh thể, tức một ý thức quan sát, có một suy nghĩ hoặc một động lực tư
duy cụ thể, thì điều đó cũng là một tần số phát sinh từ quá trình động lực của
các bội điều hòa (sóng hài) tần số như đã mô tả ở trên. Khi đủ năng lượng chú ý
được dành cho tiến trình tư duy đó, tần số phát sinh từ cá nhân sẽ tự động khớp
với tần số của vật thể hoặc tình huống mà người đó đang nghĩ tới. Đây được gọi
là Luật Gương, và nó chi phối vũ trụ này.
Các tần số giống
nhau sẽ thu hút lẫn nhau bởi vì chúng vốn là cùng một tần số; chúng là một và
là cùng một thứ. Do đó, tần số của suy nghĩ chính là vật thể hoặc tình huống
trong tâm trí cá nhân, và điều này cũng chính là vật thể hoặc tình huống bên
ngoài được nhận thức, bởi thực ra không hề tồn tại vật thể hay tình huống bên
ngoài đúng nghĩa. Tất cả đều nằm trong cùng một đại dương năng lượng tiềm năng
của các bội điều hòa (sóng hài) tần số, giống hệt như các mô thức tư duy của nhận
thức cá nhân và tập thể đang tạo ra toàn bộ thực tại đó. Suy nghĩ chính là vật
thể, và suy nghĩ chính là tình huống hay các tình huống; không có sự khác biệt
nào cả! Không hề có một thế giới bên ngoài tách biệt với bạn. Bạn chính là người
đang chứa tất cả trong tâm trí mình, bạn đang tạo ra tất cả, cả ở cấp độ cá
nhân lẫn tập thể! Các bạn gọi điều này là Luật Hấp Dẫn.
Thế giới bên
ngoài là sự phản chiếu của thế giới nội tâm, và cách duy nhất để thay đổi thế
giới bên ngoài là thay đổi thế giới bên trong trước tiên. Khi nhận thức bị giảm
xuống thì khả năng cảm nhận cũng giảm theo. Điều này có nghĩa là ít thông tin
hơn và ít năng lượng hơn được tạo ra và xử lý bởi ý thức quan sát. Điều đó dẫn
đến ít chi tiết hơn và ít thông tin hơn, đồng nghĩa với một cõi tồn tại có tần
số thấp hơn, bởi các cõi thấp có ít chi tiết hơn và các bội điều hòa (sóng hài)
của chúng vận hành chậm hơn. Ngược lại, khi các cõi hoặc mật độ cao hơn, ngày
càng nhiều chi tiết được bổ sung vào nhận thức của ý thức quan sát, và lượng
thông tin đó cũng có thể được xử lý nhanh hơn theo cấp số nhân; các bội điều
hòa (sóng hài) cũng vậy, bởi tốc độ của chúng tăng lên theo cấp số nhân.
Cá nhân không thể
xử lý nhiều hơn một lượng dữ liệu nhất định được cung cấp bởi mức độ nhận thức
của mình, và chỉ có thể xử lý dữ liệu đó ở một tốc độ thời gian nhất định, tỷ lệ
thuận trực tiếp với mức độ nhận thức ấy. Nhận thức là số lượng sự vật, ý tưởng
và đối tượng mà một ý thức quan sát có thể xử lý và diễn giải; tất cả chúng đều
là các sóng dừng hình thành từ tần số và các bội điều hòa (sóng hài) của chúng
bên trong trường năng lượng tiềm năng được gọi là ether, mà đến lượt nó cũng
chính là bản thân ý thức quan sát, cả ở cấp độ tập thể lẫn cấp độ cá nhân như một
mảnh toàn ảnh.
Điều này có
nghĩa là mật độ hay cõi tồn tại càng chậm thì càng chứa ít chi tiết hơn. Khi nhận
thức của ý thức quan sát giảm xuống thì năng lượng chú ý của nó cũng giảm theo,
và khoảng thời gian được cảm nhận để biến suy nghĩ thành một vật thể hay tình
huống vật chất cũng dài hơn. Khi nhận thức của ý thức quan sát phát triển, khả
năng cảm nhận và xử lý nhiều chi tiết hơn cũng tăng lên, dẫn đến tốc độ biểu hiện
nhanh hơn, từ đó tạo ra trải nghiệm nhận thức về một cõi tồn tại có mật độ cao
hơn.
Một vật thể rắn
được nhận thức là sự tập trung của các sóng dừng trong một trường, dao động ở một
tốc độ tương đối cố định, từ đó mang lại cho ý thức quan sát cảm giác và ý niệm
về một vật thể vật chất rắn. Một tình huống là sự kết hợp của các bội điều hòa
(sóng hài) tần số trong một quá trình động, liên quan đến một tốc độ tần số cụ
thể bên trong một khung thời gian do người quan sát tạo ra. Đó là sự tương tác
động giữa các ý tưởng - nhận thức và các vật thể rắn được nhận thức trong suốt
một khoảng thời gian. Một chuỗi các bội điều hòa (sóng hài) tần số tương tác với
nhau bằng độ chính xác toán học tuyệt đối.
Những tương tác
toán học này xác định bước sóng và tần số bên trong một cõi tồn tại, đồng thời
cũng xác định các tần số chính xác bên trong một trường năng lượng. Thực ra
không có vật chất theo nghĩa tuyệt đối, vì tất cả chỉ là các sóng dừng được nhận
thức, các điểm năng lượng tập trung hay các nút bên trong một trường năng lượng
tiềm năng được gọi là ether. Và như đã giải thích ở trên, ether là một đại
dương của ý thức.
Các tần số toán
học cụ thể này cùng với sự tương tác của chúng với nhau, tạo ra một bội điều
hòa (sóng hài) tập thể kết hợp bên trong trường năng lượng ether, chính là thứ
mà chúng ta có thể gọi là một vị trí, một địa điểm, một sự sắp xếp và tương tác
cụ thể của các sóng năng lượng dừng mà chúng ta gọi là vật chất. Sau đó, chúng
ta diễn giải chúng thông qua nhận thức ý thức của mình thành một góc phố trong
một thành phố chẳng hạn, với các cột đèn, vỉa hè, buồng điện thoại, trụ cứu hỏa
và mọi chi tiết nhỏ nhất khác. Đồng thời, các phương tiện và những người đang
đi ngang qua góc phố đó cũng là những mô thức năng lượng bên trong trường, với
các bội điều hòa (sóng hài) tần số riêng của họ đang liên tục tương tác với
nhau trong một quá trình không ngừng nghỉ, ở một tốc độ thời gian cụ thể được tạo
ra bởi và là kết quả của cả mức độ nhận thức cá nhân lẫn tập thể của mọi ý thức
quan sát đang cư trú trong cõi tồn tại đó.
Và những tần số
cụ thể này, vốn chính xác và không bao giờ hoàn toàn giống với bất kỳ tần số
nào khác, được diễn giải như một vị trí chính xác trong không gian và thời
gian. Chính các bội điều hòa (sóng hài) tần số chính xác của vị trí góc phố đó
là thứ chúng tôi có thể sử dụng để điều hướng một phi thuyền. Vị trí và các bội
điều hòa (sóng hài) tần số của nó có thể nhỏ như một nguyên tử hoặc lớn đến mức
bạn có thể tưởng tượng được, với độ phức tạp tăng dần khi quy mô mở rộng. Vì vậy,
các bội điều hòa (sóng hài) tần số chính xác của một hành tinh, chẳng hạn, bên
trong đại dương năng lượng tiềm năng mà chúng tôi gọi là ether, và bên ngoài
các bạn gọi là liên tục không-thời gian, chính là vị trí chính xác của nó trên
bản đồ sao, đồng thời cũng là dữ liệu chính xác mà chúng tôi nhập vào máy tính
điều hướng của phi thuyền để thiết lập điểm đến.
Mọi tần số và mọi
bội điều hòa (sóng hài) của chúng đều có thể được diễn giải dưới dạng các giá
trị số và có thể được quan sát, dự đoán bằng toán học thông qua các phương
trình tương ứng. Điều này bổ sung yếu tố có thể dự đoán được cho trường năng lượng
chứa các vật thể và tình huống đã được biểu hiện. Điều đó có nghĩa là khi chúng
ta hiểu được các tương tác toán học có thể dự đoán giữa những vật thể và tình
huống này bên trong một trường năng lượng tiềm năng, thì chúng ta thực sự có thể
dự đoán tương lai.
Hiểu được các
tương tác và mối quan hệ toán học giữa các tần số và các bội điều hòa (sóng
hài) của chúng sẽ tạo thành một bản đồ tần số. Nó có thể là một bản đồ tần số
nhỏ, đóng vai trò như bản thiết kế năng lượng của một địa điểm nhỏ, hoặc có thể
lớn đến mức trở thành một bản đồ sao tần số dùng để dẫn đường cho các phi thuyền
xuyên qua vũ trụ. Một bản đồ tần số là sự diễn giải bằng số học về các tương
tác giữa các làn sóng trong trường năng lượng tiềm năng, hay ether, và nó có thể
là bản đồ của các địa điểm, của các tình huống, hoặc là sự kết hợp của cả hai.
Về bản chất, đây là một bản đồ của ether, hay một bản đồ ether.
Các vật thể được
liên kết với các tình huống, mà cũng có thể là các hoàn cảnh. Chúng tồn tại bên
trong một bối cảnh nhất định trong một trường năng lượng. Bối cảnh cụ thể đó là
duy nhất và được biểu diễn bằng một giá trị số. Nó có thể đại diện cho một tình
huống - địa điểm trong bất kỳ bối cảnh nào, dù là quá khứ, hiện tại hay tương
lai, bởi tất cả đều là những cấu trúc của các bội điều hòa (sóng hài) tần số
mang tính toán học. Không có quá khứ, hiện tại hay tương lai; chỉ có các bội điều
hòa (sóng hài) tần số bên trong một trường năng lượng, và vì thế chúng có thể
được tái tạo lại. Như đã mô tả ở trên, tất cả những gì cần làm là tái tạo chính
xác các bội điều hòa (sóng hài) tần số của tình huống cần được tái tạo, hay còn
gọi là điểm đến, và bạn sẽ ở đó, bởi vì tần số đó không chỉ đại diện cho điểm đến
mà chính nó là điểm đến như đã giải thích ở trên.
Khu vực hoặc vị
trí mà chúng ta sẽ đến, tức điểm đến của chúng ta, là thứ mà tôi gọi là một bối
cảnh, và nó là kết quả của tất cả các tương tác của mọi tần số hiện diện tại
đó, cùng với toàn bộ các bội điều hòa (sóng hài) và các mối quan hệ giữa chúng.
Giờ đây, chúng ta có thể biểu diễn toàn bộ bối cảnh đó như một chuỗi phức tạp của
các tương tác toán học; càng phức tạp thì càng nhiều chi tiết. Chúng ta có thể
biểu diễn một khung cảnh cố định, không chuyển động bằng các giá trị tần số số
học được sắp xếp theo dạng lưới toán học, đóng vai trò như bản thiết kế năng lượng
và tần số của khung cảnh đó, đồng thời là một ảnh chụp chính xác về mặt toán học
của sự kiện đó hoặc bất kỳ sự kiện nào khác. Đây là một biểu diễn tĩnh của bối
cảnh, giống như một bức ảnh.
Mỗi chi tiết nhỏ
nhất trong khung cảnh hoặc “bức ảnh” đó đều được biểu diễn bằng giá trị tần số
toán học tương ứng của nó dưới dạng một chuỗi số trong cấu trúc lưới. Điều này
sẽ biểu thị một khung cảnh hay bối cảnh ảnh phẳng hai chiều. Bằng cách thêm nhiều
chi tiết hơn dưới dạng các tương tác và giá trị số học, chúng ta có thể tạo
thành một khung cảnh hoặc bối cảnh ba chiều phức tạp. Một biểu diễn hoàn chỉnh
với độ chi tiết cực cao của một tình huống hoàn chỉnh, được cố định trong thời
gian và không gian.
Bước tiếp theo
là thêm một chuỗi các ảnh chụp bối cảnh ba chiều siêu chi tiết này, được làm
cho chuyển động bằng toán học và số học, sử dụng các tương tác đã được thiết lập
giữa chúng theo các bội điều hòa (sóng hài) của từng tần số tạo nên các chi tiết
của một sự kiện, của các vật thể và các tương tác của chúng, từ đó tạo ra một
chuỗi hoạt ảnh. Khung cảnh hay bối cảnh này là một điểm cố định trong thời gian
và không gian mà chúng ta có thể sử dụng làm điểm đến. Vì mỗi chuỗi sự kiện diễn
ra trong từng bối cảnh đều chính xác về mặt toán học và tuân theo các phương
trình chính xác mà chúng tôi biết, nên chúng tôi có thể sử dụng điều đó để tính
toán một sự kiện vẫn chưa xảy ra. Khi một bối cảnh được giới hạn trong phạm vi
nhỏ và chỉ có một số lượng ít chi tiết dưới dạng các tần số, các bội điều hòa
(sóng hài) của chúng cùng các mối quan hệ toán học giữa chúng, chúng ta có thể
tính toán điều gì sẽ xảy ra tiếp theo với độ chính xác rất cao. Nhưng khi ngày
càng thêm nhiều dữ liệu, bối cảnh đó sẽ đòi hỏi năng lực tính toán ngày càng lớn
để dự đoán kết quả, bởi số lượng biến số cũng tăng theo cấp số nhân. Quá trình
này chính là thứ chúng tôi gọi là việc tính toán các sự kiện bên trong một trường
lượng tử.
Sử dụng quá
trình này, chúng tôi cũng có thể tạo ra những tình huống toán học - tần số hoàn
chỉnh, được thiết kế để phù hợp hoặc được ghép nối vào một bối cảnh thực tế lấy
từ thế giới bên ngoài. Theo đúng nghĩa đen, chúng tôi có thể ghép một vật thể,
một tình huống, một con người hoặc một phi thuyền vào trường đó. Hoặc chúng tôi
cũng có thể loại bỏ một thứ ra khỏi đó. Điều duy nhất cần làm là khiến các tần
số và động lực của các bội điều hòa (sóng hài) của chúng khớp với những tần số
mới.
Chúng tôi cũng
có thể chuyển một vật thể, một con người, một phi thuyền hoặc gần như bất cứ thứ
gì từ một bối cảnh - tình huống thực này sang một bối cảnh - tình huống thực
khác. Trong trường hợp này, chúng tôi phải thay đổi các tần số của tình huống
hoặc vật thể ban đầu để chúng phù hợp với bối cảnh tiếp nhận, tức là điểm đến.
Khi đưa một vật thể vào một bối cảnh - tình huống thực khác, các mối quan hệ
toán học chính xác giữa các bội điều hòa (sóng hài) tần số không cần phải được
ghép khớp tuyệt đối như trong trường hợp ghép một tình huống vào một tình huống
khác. Khi vật thể mới được đưa vào, nó sẽ tự động làm thay đổi toàn bộ động lực
năng lượng của khung cảnh đó. Từ góc nhìn của một người đứng quan sát hiện trường,
vật thể đó sẽ đơn giản xuất hiện từ hư không. Phản ứng của các ý thức quan sát
hiện diện tại đó là một phần của quá trình điều chỉnh tần số trước sự xuất hiện
của vật thể mới.
Tất cả những
phép tính này đòi hỏi lượng tính toán khổng lồ, lên đến hàng nghìn tỷ lần nghìn
tỷ phép toán toán học chính xác diễn ra ở tốc độ nano giây. Không cần phải nói
cũng biết rằng điều này đòi hỏi những máy tính cực kỳ tiên tiến và mạnh mẽ,
không còn vận hành bằng ngôn ngữ nhị phân nữa. Để đạt được điều đó, chúng thực
hiện các phép tính dựa trên xác suất trong một trường lượng tử, sử dụng hàng
triệu máy gia tốc hạt nano bên trong mỗi lõi xử lý.
https://www.youtube.com/watch?v=UcvTJlFqsYA
Nếu
bạn muốn hiểu sâu hơn về các khái niệm trong cuộc trò chuyện này, bạn có thể đọc
thêm các bài sau:
-
Năng Lượng Tự Do (Điểm Không): Cơ Chế Của
Sự Biểu Hiện
-
Mật độ
-
Điều Hướng Sao 1 (Du Hành Thời Gian
Ngoài Hành Tinh, Bản Đồ Sao và nhiều hơn nữa)
-
Điều hướng sao 2 (Phần 5): Chế độ dịch
chuyển tức thời
-
Di chuyển qua Ether - Điều hướng sao 2
(PHẦN 6)
-
Bản đồ tần số - Vùng không gian không
xác định (Điều hướng sao phần 7
https://www.facebook.com/Go-With-The-Earth-110516891516479/
Xem
toàn bộ thư viện bài viết
https://gowiththeearth.blogspot.com/2021/10/tat-ca-sach-co-tai-blogs.html