Chương
13
Quả
bom nguyên tử
TUẦN KẾ TIẾP,
khi tôi ngồi trong xe chờ Katie tan ca, rất nhiều suy nghĩ chạy qua đầu tôi. Niềm
tin mà chúng tôi đã xây dựng quan trọng hơn bất kỳ câu chuyện giật gân nào. Hơn
nữa, người đàn ông Nhật Bản ấy đã trở nên vô cùng thật đối với tôi, và tôi biết
mình không thể phản bội ông. Điều này cũng quan trọng không kém việc làm tổn hại
đến mối quan hệ giữa tôi và Katie. Tôi phải xem cả hai như những con người thật,
có cảm xúc và tâm tư. Chúng tôi hoàn toàn có thể tiếp tục khám phá những kiếp sống
khác nếu cô ấy cảm thấy mình chưa sẵn sàng đối diện với chuyện này. Tôi chưa
bao giờ ép bất kỳ đối tượng nào của mình làm điều họ không thoải mái.
Khi Katie
tiến lại gần xe, cô ấy tươi cười rạng rỡ. Cô đã quyết định tiếp tục, và cảm thấy
như vừa trút được một gánh nặng lớn khỏi vai. Ở đâu đó rất sâu bên trong, cô biết
rằng việc trải nghiệm cái chết của Nogorigatu là vô cùng quan trọng đối với sự
cân bằng của mình và cô buộc phải đối diện với nó. Nếu trốn tránh, cô cảm thấy nó
sẽ mãi gặm nhấm tâm trí mình. Nhưng việc quyết định đối mặt không có nghĩa là
cô không sợ. Cô vẫn rất lo lắng khi nghĩ đến việc phải đi qua trải nghiệm đó.
Người ta vẫn nói rằng dũng cảm thật sự là làm điều gì đó dù ta đang vô cùng sợ
hãi. Làm một việc dễ dàng thì chẳng cần can đảm. Tôi tự hào về quyết định của
cô – không phải vì tôi, mà vì chính cô. Tôi cảm thấy điều đó sẽ giúp ích rất lớn
cho sự trưởng thành tinh thần của cô.
Tại nhà,
khi chuẩn bị cho buổi làm việc, tôi bắt đầu cảm thấy bất an. Tôi đã đưa rất, rất
nhiều người đi qua trải nghiệm cái chết của họ trong các ca hồi quy thôi miên.
Phần lớn những trường hợp đó xảy ra một cách tự phát, không báo trước. Những
lúc khác, tôi chủ động hướng họ trải nghiệm cái chết. Tôi luôn có thể kiểm soát
mức độ chấn thương mà đối tượng phải đối mặt.
Nhưng tôi
biết, những gì chúng tôi sắp khám phá hôm nay là một hoàn cảnh hoàn toàn khác.
Đây là lần đầu tiên tôi biết trước một người sẽ chết như thế nào, và tôi cũng
biết trải nghiệm đó đã ảnh hưởng đến Katie ra sao trong trạng thái tỉnh táo. Liệu
có ai thật sự biết cảm giác chết trong một vụ nổ nguyên tử là như thế nào
không? Trải nghiệm cái chết này có khác không? Cô ấy sẽ phản ứng ra sao? Còn
tôi thì sao? Chỉ nghĩ đến thôi cũng khiến tôi rùng mình. Katie theo bản năng cảm
nhận được sự lo lắng của tôi. “Này, không biết là chị hay em lo hơn nữa!”
Tôi cười,
nhưng không cố che giấu cảm xúc của mình. Tôi nói ra những băn khoăn, nhưng cô ấy
vẫn cảm thấy mình phải đi qua trải nghiệm này. Tôi biết từ những kinh nghiệm trước
với các đối tượng khác rằng nếu chuyện trở nên quá sức chịu đựng, cô ấy sẽ tự
thức dậy, giống như khi tỉnh khỏi một cơn ác mộng. Tiềm thức luôn bảo vệ đối tượng
trong suốt thời gian họ ở trạng thái xuất thần sâu, và tôi không có khả năng giữ
cô ấy lại nếu cô không muốn tiếp tục trải nghiệm. Khi tôi dùng từ khóa và thấy
cô trượt vào trạng thái thôi miên quen thuộc, tôi đặt “ánh sáng trắng bảo vệ”
như thường lệ quanh cô. Nhưng lần này, tôi còn gọi cả những người dẫn dắt tinh
thần của cô và những năng lượng bao quanh chúng ta đến để hỗ trợ cô vượt qua thử
thách này. (Một số người gọi họ là các thiên thần hộ mệnh.) Tôi không muốn để bất
cứ điều gì xảy ra ngoài ý muốn. Tôi biết cô ấy sẽ cần mọi sự giúp đỡ mà chúng
tôi có thể có.
Trong suốt
buổi làm việc này, tôi bị cuốn vào việc theo dõi phản ứng thể chất của Katie đến
mức tôi không cảm nhận trọn vẹn tác động cảm xúc của trải nghiệm cho đến khi
nghe lại băng ghi âm sau đó. Khi tôi mở băng này cho các nhóm người quan tâm
nghe, nhiều người đã khóc, và những người khác thì không thể ngồi nghe hết. Họ
chạy ra khỏi phòng. Tôi hy vọng mình có thể truyền tải được cảm xúc chân thật,
xé lòng ấy qua một phương tiện nghèo nàn như chữ viết. Tôi đã trăn trở rất nhiều
về cách diễn đạt hiệu quả nhất những cảm xúc này trên trang giấy. Tôi cảm thấy
có điều gì đó ở đây cần phải được kể ra. Đây là một câu chuyện dành cho thời đại
của chúng ta, và nó đang kêu gọi thế giới này. Nó van nài: “Đừng để sự điên loạn
này xảy ra thêm lần nữa!”
Tôi hít một
hơi thật sâu và bắt đầu.
D: Chúng ta
hãy đến mùa xuân năm 1945. Đó sẽ là lúc trời đất thức giấc và mọi thứ bắt đầu
sinh trưởng trở lại. Bạn thấy gì?
K: Tôi thấy
máy bay bay trên đầu. Cảm giác như chúng đang rình rập chúng tôi. Chúng đang
quan sát mọi thứ chúng tôi làm.
D: Bạn đang
ở đâu?
K: Ở
Hiroshima.
D: Đó là loại
máy bay gì?
K: Ờ… tôi
không biết. Chúng khá lớn. Có… bốn hay năm chiếc, và chúng bay trên đầu.
D: Vì sao
chúng bay qua thành phố?
K: Tôi
không biết. Chúng không phải của chúng tôi. Nhưng giống như thể chúng chỉ quan
sát. Chúng không thả bom, chỉ quan sát. Chúng tôi đã từng thấy chúng trước đây,
nhưng đây là chuyện mới xảy ra gần đây – chúng bắt đầu bay qua. Tôi tự hỏi liệu
chúng có đang tìm một chỗ thích hợp để thả bom không. Tôi không biết.
D: Trước
đây máy bay có từng thả bom chưa?
K: Ở phía bắc
và các khu vực xung quanh thì có. Chúng đã thả bom và gây thiệt hại rất lớn cho
ruộng đồng và thị trấn. Ở đây thì chưa từng bị đánh nặng, ít nhất là trong
thành phố. Họ giữ bí mật mọi thứ. Có lẽ đến lượt chúng tôi rồi.
D: Vì sao họ
lại thả bom?
K: Đây là đất
nước mà chúng tôi đang chiến tranh. Cuộc chiến mà chúng tôi đã chiến đấu – giờ
thì nó đã về đến tận nhà.
D: Bạn nghĩ
chính phủ có lường trước chuyện này không?
K: Ai mà biết?
Có lẽ họ nghĩ rằng chiến tranh sẽ kết thúc trước khi mọi thứ đi xa đến vậy. Tôi
là ai mà phán xét? Tôi không có thông tin của họ. … Điều này làm tôi lo lắng,
vì tôi biết rằng nếu họ đang thả thứ gì đó và bay qua thành phố của chúng tôi,
thì họ hoàn toàn có thể thả nó xuống chúng tôi. Và tôi tự hỏi.
D: Khi máy
bay bay qua, người dân có sợ không?
K: Có. Họ
chạy đi và có… các hầm trú ẩn, những nơi để vào nhằm đảm bảo an toàn… Họ gọi
là… hầm tránh bom, hay gì đó. Tôi không chắc. (Ông lúng túng về từ ngữ.)
D: Bạn đã từng
vào đó chưa?
K: Rồi. Một
số nơi là trường học được bảo vệ tốt, và có lẽ nằm xa các nhà máy hơn. Những
nơi khác là tầng hầm của các tòa nhà cao.
D: Đó là
nơi người ta vào khi máy bay đến?
K: Đôi khi,
đúng vậy. Đôi khi người ta vẫn tiếp tục công việc của mình. Dù thế nào thì cũng
phải sống.
D: Không có
quy định bắt buộc gì sao?
K: Có còi
báo động, và khi chúng vang lên, âm thanh sẽ vang khắp thành phố báo rằng có khả
năng sắp bị tấn công. Nhưng cho đến giờ thì chưa có cuộc tấn công nào. Bạn phải
dọn đường phố, ngoài ra thì không có vấn đề gì. Tôi không muốn vào hầm trú ẩn.
Tôi thà nhìn xem thứ gì đang đến với mình còn hơn là chạy trốn như một con sóc
hoảng sợ chui vào hốc cây. Nếu tôi phải chết, tôi muốn thấy thứ gì giết mình.
D: Bạn còn
đi về giữa thành phố và nhà cũ không?
K: Không. Ở
đó quá nguy hiểm, có quá nhiều binh lính và khả năng bị ném bom… tôi không đi nữa.
D: Bạn có
thích sống trong thành phố với các con gái không?
K: Tôi cảm
thấy như một con chim bị nhốt lồng… bối rối và không thể bay.
D: Bạn có
thể đi dạo đôi khi không?
K: Đôi khi,
nhưng chúng tôi bị chặn lại trên đường. Họ nghi ngờ tất cả mọi người. Binh lính
hỏi: “Ông ở đây làm gì? Ông đang làm gì?” Ai cũng trở nên nghi ngờ và căng thẳng.
Thỉnh thoảng khi tôi ra được ngoài, tôi đi dạo, nhưng chẳng có chỗ nào để đi
ngoài quanh quẩn trong thị trấn. Tôi không thích. Tôi thích sống trong nhà
mình, có ruộng đồng và vật nuôi xung quanh. Tôi nhớ sự yên tĩnh và thanh bình.
D: Bạn nói
là chỉ có hai phòng. Tất cả ngủ có khó không?
K: Chúng
tôi trải chiếu trên sàn và ngủ trên đó, như vậy thì cũng đủ chỗ.
D: Có chỗ nấu
ăn không?
K: Chúng
tôi có một bếp than, đặt trong một phòng.
D: Ít ra
thì bạn cũng không cô đơn. Đó là điều đáng biết ơn.
K: Đúng vậy.
Nhưng đây cũng không phải là cuộc sống thích hợp để nuôi dạy trẻ con.
D: Đúng thế.
Và bây giờ là… tháng mấy?
K: Tháng
Tư.
D: Tháng Tư
năm 1945. Được rồi, chúng ta tiến lên thêm vài tháng nữa. Tháng Bảy năm 1945 –
mùa hè, rất nóng.
Tôi không
muốn lao thẳng vào sự việc, mà nghĩ rằng tốt hơn là từ từ tiến gần. Tôi đếm tới
tháng Bảy năm 1945 và hỏi Nogorigatu thấy gì.
K: Tôi thấy
các con gái tôi đi làm về. Tôi đang giúp họ chuẩn bị bữa ăn.
D: Mọi thứ
thế nào rồi?
K: Rất tệ.
Có rất nhiều vấn đề. Họ đã ném bom xung quanh thành phố, ai cũng lo lắng và
căng thẳng. Chưa có đòn đánh trực tiếp nào ở đây, và chúng tôi luôn tự hỏi bao
giờ thì đến lượt mình. Hai nhà máy ở ngoại ô đã bị đánh trúng – không thiệt hại
nghiêm trọng, có một số người chết. Họ vẫn xoay xở để tiếp tục làm việc.
D: Khi bom
rơi, âm thanh như thế nào? Bạn có nghe thấy không?
K: Có một
tiếng rít chói tai trước khi nổ. Người ta nói rằng bạn sẽ không bao giờ nghe thấy
quả bom rơi trúng mình, nên tôi không biết.
D: Còn nhà
máy nơi các con gái bạn làm việc thì sao? Đã bị thiệt hại chưa?
K: Chưa.
D: Khu nhà
bạn đang sống có gần nhà máy không?
K: Không
quá gần, nhưng đủ gần để phải lo.
D: Máy bay
có bay qua thường xuyên không?
K: Mỗi sáng
đều có, rất sớm. Tôi nhìn chúng và tự hỏi… khi nào? Có người có thể làm ngơ (thở
dài thật sâu), còn tôi thì không.
D: Có quân đội
nào ở đó để bảo vệ không?
K: Họ bắn
lên. Nhưng họ cư xử như thể đó chỉ là một trò chơi lớn. Như thể chẳng có gì
nghiêm trọng. Tôi… tôi không hiểu. (Tôi yêu cầu ông giải thích.) Ồ, giống như họ
đã quen với chuyện đó; họ bắn ba phát lên trời bằng súng, rồi thôi. Như thể họ
không quan tâm có bắn trúng hay không, hoặc có lẽ máy bay ở ngoài tầm bắn. Tôi
không biết.
D: Tình
hình khắp đất nước đều như vậy sao?
K: Tôi
không biết. Chúng tôi không nhận được nhiều tin tức. Quân đội là những người nhận
tin, và họ không nói cho chúng tôi biết bao nhiêu.
D: Bạn còn
vào hầm trú ẩn không?
K: Đôi khi.
Mọi người… nó đã trở thành chuyện hằng ngày, nên họ không còn lo lắng nữa. (Ông
cười.) Có người nói họ chỉnh đồng hồ theo giờ máy bay bay qua. (Trở nên nghiêm
túc.) Tôi cảm thấy đây là một kế hoạch nào đó của họ. Họ đang làm gì đó. Tôi
không nghĩ họ ngu ngốc đến mức làm chuyện này mỗi ngày mà không có lý do. Họ
đang tìm kiếm thứ gì đó, hoặc đang lên kế hoạch cho điều gì đó. Tôi không biết
là gì.
D: Nghe
đúng là kỳ lạ. Tôi có thể hiểu vì sao đến một lúc nào đó người ta không còn cảm
thấy nguy hiểm nữa.
K: Bạn làm
ngơ trước sự tồn tại của chúng, đúng vậy. Có người nói họ cảm thấy như thế, họ
không lo. (Thở dài.) Tôi thì lo. Họ nói tôi là một ông già ngốc, nhưng tôi lo.
D: Các con
gái của bạn có lo không?
K: Họ tin
những gì họ được nói. Họ nói rằng người Mỹ không muốn ném bom chúng tôi, hay gì
đó… tôi không biết. Họ nói rằng người Mỹ không đủ mạnh để đánh chúng tôi. Họ
nói rằng chiến tranh sắp kết thúc vì chúng tôi không còn giao chiến với họ nữa.
Ai mà biết?
D: Nghe như
thể họ nói với bạn đủ thứ chuyện… Các cháu có sợ không?
K: Không.
Chúng chỉ nhìn máy bay. Chúng thấy rất thú vị khi được xem máy bay bay qua.
D: Thức ăn
còn cầm cự được không?
K: Chúng
tôi vẫn sống nhờ những gì họ phát cho. Tôi không biết họ lấy ở đâu ra. Chủ yếu
là gạo. Ít hơn trước, nhưng chúng tôi vẫn xoay xở được. Đôi khi, nếu may mắn,
chúng tôi kiếm được chút gì đó ở chợ tự do – bánh mì, ngũ cốc… chỉ có vậy. Đôi
khi chúng tôi tự trồng giá đỗ, nếu may mắn tìm được đậu. Chúng tôi trồng trong
phòng, chỉ với chút nước và ánh sáng mặt trời, rồi ăn cùng cơm. Thỉnh thoảng có
thịt, nhưng rất hiếm. Ngày càng hiếm.
D: Thịt đó
đến từ chính phủ hay từ chợ?
K: Đôi khi
một ít từ cả hai. Đôi khi có trong khẩu phần, nhưng thường là từ ai đó đã giết
bò của họ, hay tương tự vậy.
D: Trước
đây bạn nói bạn trao đổi đồ ở chợ. Bạn dùng gì để trao đổi?
K: Nhiều thứ
khác nhau. Đôi khi là một cái mền dư. Đôi khi tôi ra ngoài tìm trái cây, hạt,
những thứ như vậy, rồi đem trao đổi. Bất cứ thứ gì chúng tôi có thể kiếm được.
D: Nghe như
tiền bạc không còn giá trị nữa.
K: Không.
Không còn giá trị thật sự. Tôi đã không thấy tiền từ rất lâu rồi.
Tôi phát hiện
ra rằng chợ đen đang phát triển rất mạnh ở Hiroshima (và có lẽ trên khắp nước
Nhật) trong giai đoạn này của cuộc chiến.
D: Họ phân
phát thức ăn cho bạn như thế nào?
K: Họ phát
cho họ ở chỗ làm, thường là mỗi tuần hai lần.
D: Đây là một
kiểu tồn tại rất khác so với cuộc sống bạn từng quen.
K: Đúng vậy,
khắc nghiệt hơn nhiều, phải đối mặt trực tiếp với thực tế.
D: … Và bạn
đang giúp chuẩn bị bữa tối?
K: Tôi đang
trông ba đứa cháu. Chúng đang chơi.
D: Chúng là
một phước lành.
K: Đúng vậy,
đôi khi chúng giúp bạn quên đi những vấn đề, nhưng rồi bạn lại lo lắng không biết
điều gì sẽ xảy ra với chúng.
Không còn lựa
chọn nào khác, tôi quyết định đây chính là lúc phải bước tiếp.
Tôi hít một
hơi thật sâu và lao thẳng về phía trước.
D: Chúng ta
sẽ rời cảnh này và tiến lên thêm vài tuần nữa. Chúng ta sẽ đi đến ngày 6 tháng
8 năm 1945, và bạn sẽ kể cho tôi những gì bạn thấy. Hãy nhớ giữ trong tâm trí rằng
bạn đang được bao bọc bởi ánh sáng trắng bảo vệ và người dẫn dắt của bạn đang ở
đây để giúp bạn. Chúng ta sẽ không để bất cứ điều gì làm hại bạn theo bất kỳ
cách nào. Bất cứ điều gì bạn thấy chỉ là ký ức, và bạn có thể kể lại cho tôi.
Có rất nhiều điều cần học từ đó. Nhưng nó sẽ không làm tổn hại đến bạn về mặt
tinh thần hay thể chất. Nếu muốn, bạn luôn có thể quan sát nó như một người đứng
ngoài.
Khi tôi đếm
Katie tiến đến ngày vô cùng quan trọng ấy, sắc mặt cô đột ngột thay đổi. Cô tái
nhợt như tờ giấy và toàn thân cứng đờ. Cô dường như rơi vào trạng thái hoang
mang. Khi cố gắng nói, chỉ có những tiếng thở hổn hển phát ra. Cô gặp rất nhiều
khó khăn trong việc hình thành câu chữ. Sự đối lập giữa giọng nói chậm rãi, ngắt
quãng, khô khan trước đó của người đàn ông Nhật Bản và trạng thái hiện tại của
thực thể này là vô cùng rõ rệt. Cô dường như đang bị sốc, và khi cuối cùng cũng
nói được, giọng cô run rẩy. Đôi lúc cơ thể cô rung lên. Tôi chưa từng nghe thấy
nỗi đau và cảm xúc xé lòng như vậy trong một giọng nói nào trước đây. Nó phát
ra từ nơi rất sâu trong ký ức tiềm thức của cô, và hoàn toàn không liên quan gì
đến Katie cả.
Rõ ràng là
đã có điều gì đó khủng khiếp xảy ra. Tôi chắc chắn mình biết đó là gì, nhưng
tôi phải tiếp tục như thể không biết gì cả, để Nogorigatu tự kể câu chuyện của
mình. Katie đang thở sâu. Tôi hỏi cô điều gì đang xảy ra.
Cuối cùng,
cô cũng có thể nói, dù rất khó khăn. Những câu nói bật ra rời rạc, ngắt quãng,
với những khoảng dừng dài khi Nogorigatu bối rối mò mẫm tìm từ ngữ cho một trải
nghiệm mà lời nói trở nên vô nghĩa.
K: Có… có một
luồng chớp khổng lồ. Rồi gió… chúng giống như lửa. Mọi người… họ ngã xuống, và
họ… và họ chỉ nằm đó, và… và… (giọng tràn đầy sự không thể tin nổi) những tiếng
hét!
D: Bạn đang
chứng kiến điều đó từ đâu?
K: Tôi đang
ở chợ.
D: Hãy kể
cho tôi luồng chớp đó như thế nào.
K: Một ánh
sáng trắng chói lòa. Và… rồi một tiếng… nổ lớn. Và… và… một đám mây khổng lồ.
Nó bốc thẳng lên trời, và… và… lan ra. Rồi gió cuộn tới. Chúng giống như lửa! Mọi
người đang chết ở khắp nơi! TẠI SAO?!
Đó là một
tiếng kêu bật ra từ tận đáy linh hồn ông, khiến sống lưng tôi lạnh buốt.
D: Chuyện
gì đã xảy ra, bạn có biết không?
Ông không
thể thốt ra thành lời. Tôi phải trấn an Katie, biết rằng bất cứ lúc nào cô cũng
có thể quyết định chấm dứt trải nghiệm này và tự đánh thức mình. Tôi nói với
Nogorigatu bằng giọng dịu dàng và đầy yêu thương, bởi tôi thực sự đã dành rất
nhiều lòng trắc ẩn cho người đàn ông này.
“Bạn có thể
nói ra. Thật ra, nói ra có lẽ sẽ tốt hơn, vì bạn thấy đó, tôi hiểu.”
K: Tôi
không… rất khó nghe được bất cứ thứ gì ngoài những tiếng hét! Mọi người… những
ai còn chạy được thì đang chạy. Người ta ngã xuống. Có người chỉ loạng choạng,
giơ hai tay ra phía trước… (Cơn sốc đang tiến sát hoảng loạn.) Mọi thứ biến mất
rồi! Nó đã bị hủy diệt! Các tòa nhà như thể chưa từng tồn tại! Không còn gì cả!
TẠI SAO?!
D: Bạn đang
ở một mình hay ở cùng các con gái?
K: Tôi ở một
mình. (Hoang mang) Tôi không biết mọi người ở đâu. Mọi thứ biến mất rồi! Thành
phố như thể… không còn trung tâm nữa! NÓ BIẾN MẤT RỒI! Các tòa nhà đã… biến mất!
Không còn gì ngoài đống đổ nát… và những tiếng hét!
Ngay cả khi
viết lại những dòng này, tôi vẫn còn nghe thấy nỗi kinh hoàng tuyệt đối trong
giọng nói của Katie. Tôi phải cố giữ mình không bị cuốn vào đó. Chỉ khi giữ được
sự khách quan, tôi mới có thể theo dõi cô và nghĩ ra những câu hỏi cần thiết.
D: Khu chợ
nằm ở đâu?
K: Nó ở… gần
một trong những lối vào thành phố. Nó… ở khá xa… so với trung tâm.
D: Bạn nói
rằng đám mây bốc thẳng lên rồi gió mới tới. Đó có phải lúc các tòa nhà bắt đầu
biến mất không?
K: Đúng vậy,
và… mọi người, họ ngã xuống. Người ta… chết.
D: Các tòa
nhà biến mất khi đám mây chạm tới hay khi gió ập đến?
K: Cả hai.
Một số… khi đám mây chạm tới thì… biến mất ngay khoảnh khắc đó. Một số khác,
cơn gió khủng khiếp đã quật mọi thứ xuống đất. Tất cả mọi người… (Ông ngừng lại,
như thể không thể hoàn tất câu nói.)
D: Bạn có bị
ngã không?
K: Có. …
Nó… rít lên. Tôi không biết đó là… tiếng người hét hay là tiếng động. Tôi… tôi
không biết. Tất cả những gì tôi biết là… mọi người đang chết! (Giọng ông lịm dần
thành một tiếng thì thầm đau đớn.)
Có một khoảng
lặng, và qua chuyển động của mắt Katie dưới mí mắt khép kín, tôi biết
Nogorigatu đang nhìn xuống. Bất ngờ, ông thốt lên: “Tay… tay tôi!” Tôi không hiểu
ông muốn nói gì, và ông lặp lại: “Tay tôi… đen rồi! Chúng bị cháy!” Vậy là ông
không chỉ là người quan sát trong thảm kịch này. Ông cũng đã bị thương, nhưng đến
giờ mới nhận ra vì cú sốc quá lớn. Tôi đưa ra những ám thị rằng Katie sẽ không
cảm thấy bất kỳ khó chịu thể chất nào, dù sau này tôi được các chuyên gia y
khoa cho biết rằng kiểu bỏng này sâu đến mức các đầu dây thần kinh bị phá hủy
và sẽ không có cảm giác đau, ít nhất là không ngay lập tức. Lúc đó tôi không biết
điều này, và mối quan tâm duy nhất của tôi là sự an toàn của Katie.
D: Ngoài
tay ra, còn phần nào khác trông đen không?
K: Không. Mặt
tôi… cảm giác như không còn gì… không còn da. (Ông rên rỉ.)
Tôi phải đẩy
hình ảnh ghê rợn này ra khỏi đầu mình nếu muốn tiếp tục.
Ông hỏi, bằng
giọng của một đứa trẻ lạc lối: “Giờ thì… chuyện gì sẽ xảy ra…? Tôi sẽ đi đâu…?
Có lẽ… còn những người khác giống tôi, đang lang thang. Tôi loạng choạng… ngã
xuống. Rồi tôi đứng dậy và lại cố gắng.”
D: Bạn nghĩ
mình có thể tìm đường quay lại nơi bạn đang sống không?
K: Nó biến
mất rồi. Tất cả đều biến mất. … Tôi phải rời đi, nhưng tôi nên đi đâu?
D: Bạn đang
cố đi đâu?
K: Đi xa.
Ra ngoài. Bất cứ con đường nào để rời khỏi đây. Để đi xa… xa khỏi… nỗi kinh
hoàng này.
D: Những
người khác đang đi đâu?
K: Những
người tôi có thể thấy… họ giống như tôi… họ chỉ… loạng choạng, và… họ lạc lối.
D: Bạn biết
không, trước đây bạn từng nói rằng máy bay bay qua mỗi sáng. Sáng nay bạn có thấy
máy bay không?
K: (Như vừa
nhận ra có thể có mối liên hệ.) Có… ngay… ngay trước chuyện này. Chẳng lẽ họ…?
Họ… hẳn đã… thả… một thứ khủng khiếp nào đó! (Hớp khí) Sao người ta có thể làm
vậy? Làm sao? Họ không biết họ đã làm gì sao? Hay họ không quan tâm?
Những lời ấy
vang lên như tiếng kêu lạc lõng trong hoang mạc.
D: Bạn nghĩ
có mối liên hệ nào giữa chuyện đã xảy ra và những chiếc máy bay bay qua không?
K: (Ông rất
xúc động.) Đó chỉ có thể là lời giải thích duy nhất. Họ hẳn đã… làm gì đó! (Giọng
đầy sự không thể tin nổi.) Họ đã giết cả thành phố! Một thành phố! Nó biến mất
rồi! (Đột nhiên ông rên rỉ.) Tôi cảm thấy bên trong mình như đang bốc cháy. Mọi
thứ… nó… như thể… ai đó quẹt một que diêm và đặt nó bên trong tôi, và nó biến
thành một đống lửa lớn. Và nó đang bùng cháy!
Tôi phản ứng
rất nhanh, đưa ra những ám thị rằng cô sẽ không cảm thấy đau đớn hay khó chịu.
Các chuyên gia nói rằng phổi của Nogorigatu có lẽ đã bị bỏng vì hít phải luồng
gió cực kỳ nóng. Điều này thường xảy ra khi con người hít phải khói từ đám
cháy. Cảm giác đau có thể đã bị trì hoãn do phản ứng sốc ban đầu. Đây chỉ là
suy đoán, và các triệu chứng thể chất của ông cũng có thể do bỏng sâu, do phóng
xạ, hoặc do điều gì đó mà chúng ta chưa hiểu.
Katie hoàn
toàn có thể chuyển sang trạng thái người quan sát bất cứ lúc nào và chỉ mô tả cảnh
tượng cho tôi, nhưng rõ ràng là tiềm thức của cô muốn cô phải trực tiếp trải
nghiệm điều này. Hoặc có lẽ chính linh hồn của cô cảm thấy cần phải nhớ lại mọi
thứ một cách chi tiết. Cô bị cuốn quá sâu vào trải nghiệm này đến mức liên tục
vượt qua những ám thị của tôi rằng cô nên giữ sự khách quan. Tôi cố gắng kéo sự
chú ý của Nogorigatu ra khỏi bản thân ông và tình trạng thể chất của ông, nhưng
không thành công.
D: Có chuyện
gì khác đang xảy ra với thành phố không? (Tôi đang nghĩ đến hỏa hoạn hay điều
gì tương tự.)
K: Không…
theo những gì tôi biết. Tôi… tôi… không biết. Tôi không… thấy… gì cả. Điều này…
tôi… tôi… không biết. Tôi chỉ…
D: Tại sao?
Có phải quá hỗn loạn hay sao?
K: (Chậm
rãi) Tôi… không… thấy… được nhiều… chút nào.
D: Bạn nghĩ
có thứ gì đó đã ảnh hưởng đến mắt bạn không?
Liệu đây là
phản ứng muộn từ vụ nổ, hay là ông đang vô thức chặn lại những gì mình không muốn
nhìn thấy?
K: Tôi…
tôi… không biết. Tất cả những gì tôi biết là… là đau đớn, hoang mang, và kinh
hoàng. TẠI SAO?!
Rõ ràng là
ông không thể tách mình ra khỏi cảm xúc của những gì đang diễn ra. Tôi không phải
là kẻ thích hành hạ người khác; tôi không hề muốn khiến ông phải chịu đựng chỉ
để thu thập câu chuyện quan trọng này. Tôi quyết định đưa Katie ra khỏi cảnh đó
và đưa cô tiến lên khoảng một tuần sau. Tôi nghĩ rằng đến lúc đó, người đàn ông
Nhật Bản này hẳn đã chết và có thể nhìn lại kiếp sống ấy từ trạng thái linh hồn,
rồi kể cho tôi nhiều hơn. Tôi đã nhầm.
K: (Giọng rất
khẽ.) Tôi đang… ở trong một tòa nhà. Họ đã… mọi người đã đến. Họ đang chăm sóc
cho những người trong chúng tôi đang hấp hối.
Vậy là người
đàn ông Nhật Bản già ấy cứng cỏi hơn tôi tưởng. Ông đã cố sống sót được gần một
tuần, dù bị bỏng và nhiễm phóng xạ. Điều này cũng trùng khớp với những ký ức tự
phát của Katie về cuộc đời ông. Cô cảm thấy ông không chết ngay lập tức, mà cầm
cự thêm khoảng chín ngày sau đó.
D: Ở đó có
nhiều người không?
K: Có hàng
trăm người… đang từ từ chết. Chúng tôi biết điều đó. (Giọng ông nghe như đã chấp
nhận một tình cảnh vô vọng.) … Họ nói đó là một quả bom. Người Mỹ. Họ đã thả một
quả bom.
D: Có thể
nào chỉ một quả bom lại gây ra tất cả chuyện đó không?
K: Tôi
không biết bằng cách nào. (Thì thầm) … Tôi không biết bằng cách nào. Tất cả những
gì tôi biết chỉ là cái chết và nỗi đau… là bạn đồng hành của tôi. (Giọng ông vỡ
ra.) Thật kinh khủng… khi có ai đó lại có thể nghĩ ra một thứ khủng khiếp như vậy.
(Hớp khí)
D: Còn các
con gái của bạn thì sao? Bạn có thấy họ ở đâu không?
K: (Giọng
thì thầm đầy đau đớn.) Không… có lẽ họ đã chết rồi. Các cháu của tôi! (Ông nức
nở thốt lên từ đó.) Tất cả đều chết rồi… Chết lúc đó có khi lại là điều nhân từ,
chứ không phải sống tiếp.
D: Có bác
sĩ hay y tá không?
K: Có,
nhưng họ không thể làm gì cả. (Giọng ông tràn đầy tuyệt vọng.) Họ chỉ… cố cho
chúng tôi thứ gì đó giảm đau. Tôi không biết đó là gì. Nó giúp được một chút,
nhưng… không nhiều… không nhiều.
D: Nghe như
họ đã biến một tòa nhà thành bệnh viện.
K: Đúng vậy.
Và tất cả những gì bạn nghe được là tiếng kêu khóc… và người ta chết dần. Trẻ
con! (Ông lại nức nở thốt lên từ đó.) Mọi người… họ chỉ đang chờ chúng tôi… tất
cả chúng tôi sẽ chết.
Tôi từng
nghe nói rằng máy bay của chúng tôi đã thả truyền đơn cảnh báo trước để người
dân rời khỏi thành phố. Lúc này tôi tự hỏi liệu điều đó có thật không.
D: Tôi từng
nghe nói rằng người Mỹ đã cố cảnh báo người dân của bạn rằng chuyện này sẽ xảy
ra. Bạn có nghe ai nói gì như vậy không?
K: Tôi
không biết. Tôi… không biết… Họ không thể nào quan tâm được. Làm sao mà mọi thứ
lại đi đến mức này, đến mức có người muốn làm điều đó? Thậm chí chỉ nghĩ đến
thôi? Làm sao có thể?
Ông nói rất
khó khăn, thỉnh thoảng phải hớp khí mới thốt ra được lời.
D: Tôi
không biết. Thật khó hiểu. Thật khó tin là điều đó có thể xảy ra. Được rồi, tôi
nghĩ đã đến lúc chúng ta rời khỏi cảnh này. Rời khỏi cảnh này cùng tất cả nỗi
đau và khổ sở của nó, và để nó lại trong quá khứ – nơi nó thuộc về. Chúng ta sẽ
trôi xa khỏi nó.
Sự thay đổi
ở Katie diễn ra ngay lập tức. Cơ thể cô giãn ra và sắc hồng quay trở lại trên
gương mặt. Như thể tôi vừa bật một công tắc.
D: Bạn là một
người rất nhạy cảm và rất giàu lòng trắc ẩn, và chúng ta không muốn mang theo bất
kỳ nỗi đau hay khổ sở nào đi cùng. Chúng ta sẽ để tất cả lại trong quá khứ –
đúng nơi của nó. Tôi muốn cảm ơn bạn rất nhiều vì đã kể cho tôi nghe và nói về
điều này. Hãy nhớ rằng những gì bạn đã trải qua chỉ là một ký ức. Nó đã xảy ra
từ rất lâu rồi. Nó sẽ không làm phiền bạn theo bất kỳ cách nào, về mặt tinh thần
hay thể chất. Nó sẽ không bao giờ, không bao giờ làm phiền bạn nữa, bởi vì giờ
bạn đã hiểu nó đến từ đâu và nó thuộc về đâu.
Tôi tràn ngập
một nỗi buồn sâu lắng và tĩnh lặng. Cái chết của Nogorigatu quá chấn động, tôi
không thể chịu nổi việc đưa Katie trở lại trạng thái tỉnh táo với đó là ký ức
cuối cùng còn đọng lại trong tiềm thức cô. Sự thay đổi nơi cô rất rõ ràng, và
tôi biết cô đã đi qua thử thách này mà không hề hấn gì, và sẽ không có ký ức tỉnh
táo nào về trải nghiệm ấy. Nhưng tôi cảm thấy việc đưa cô đến một thời điểm hạnh
phúc hơn trước khi đánh thức là điều tối thiểu của sự tử tế và công bằng. Tôi
cũng cảm thấy mình mắc nợ người đàn ông già mà tôi đã quen biết và kính trọng.
Đó là lời chia tay của tôi, lời điếu văn dành cho ông. Hay là tôi đang làm điều
đó cho chính mình? Tôi sẽ không bao giờ biết. Tôi chỉ biết rằng, với lương tâm
của mình, tôi không thể đưa cô trở lại trạng thái tỉnh táo từ một nỗi tuyệt vọng
xé nát linh hồn như vậy.
D: Hãy quay
lại năm 1930; trở về một thời điểm hạnh phúc hơn, một ngày vui hơn.
Giọng nói lập
tức thay đổi, từ những tiếng rên rỉ đau đớn của người đàn ông Nhật Bản đang hấp
hối, trở nên trẻ trung và tràn đầy sinh lực.
K: Tôi đang
làm gốm. Tôi vừa lấy chúng ra khỏi lò nung và chúng đang nguội dần.
Còn thời điểm
nào thích hợp hơn để quay về chứ? Một thời điểm khi thế giới vẫn còn yên bình
và ông đang làm gốm – thứ luôn mang lại cho ông niềm tự hào lớn lao.
K: Chúng rất
đẹp. Mỗi cái đều độc đáo theo cách riêng của nó. Tôi làm việc rất cẩn thận.
Tình yêu của tôi hiện diện trong từng món tôi tạo ra.
D: (Tôi
tràn đầy lòng trắc ẩn với người đàn ông này.) Bạn làm việc rất tốt và bạn tự
hào về nó. Bạn bán chúng và người ta mua chúng – điều đó cho thấy chúng có giá
trị.
Tôi thả lỏng
và cảm thấy một sự bình yên lan tỏa khắp căn phòng. Tôi biết rồi mọi thứ sẽ ổn.
Người bạn Nhật Bản của tôi cuối cùng cũng sẽ tìm được sự bình an mà linh hồn
tái sinh của ông đã khao khát. Ông đã hoàn thành sứ mệnh mà ông khởi sự khi những
ký ức bị chôn giấu trỗi dậy trong tâm trí Katie. Cuối cùng, ông đã được minh
oan. Cái chết của ông không hề vô nghĩa.
D: Gia đình
ở đâu?
K: (Cô mỉm
cười.) Các con trai tôi đang ngoài ruộng, vợ tôi ở trong nhà làm việc. Còn tôi
thì đang làm… công việc của mình.
D: Và đó là
một ngày hạnh phúc, phải không? Một ký ức đẹp.
K: Đúng vậy,
tôi rất mãn nguyện. Biết rằng chính đôi tay mình đã tạo ra một thứ đẹp đẽ thật
sự rất thỏa lòng.
Tôi lại có
thể thấy Nogorigatu lúc còn trẻ, lén lút tạo ra những con vật nhỏ bé yêu quý của
mình, bất chấp sự phản đối của cha ông.
D: Bạn cũng
thích làm những bức tượng nhỏ đó, phải không?
K: (Cô mỉm
cười) Vâng.
D: Những
con vật nhỏ. À, đó là một điều rất tốt, bởi vì bạn có niềm tự hào trong đó. Và
đây là một ngày hạnh phúc. Hãy giữ lấy những ký ức vui. Đừng dừng lại ở những
thời điểm tồi tệ. Hãy nhớ những ngày hạnh phúc – bạn có đồng ý không?
K: Vâng,
chính chúng làm cho ký ức trở nên tròn đầy, để khi nhìn lại bạn có thể mỉm cười.
D: Đúng vậy,
hãy nghĩ về những điều tốt đẹp, rồi những điều xấu sẽ tự lo lấy phần của chúng.
Nghe giống như điều bạn sẽ nói, phải không?
Trái tim
tôi đã hoàn toàn hướng về ông. Tôi đã cảm nhận nỗi đau và nỗi buồn của ông, và
dường như thật công bằng khi tôi có thể đưa ông trở về trọn vẹn, về đúng nơi
tôi đã gặp ông lần đầu – đang làm gốm. Như vậy, tôi có thể để ông lại với ký ức
của một thời điểm hạnh phúc, trước khi thế giới phát điên. Tôi biết mình sẽ
không bao giờ được yên lòng cho đến khi câu chuyện của ông được ghi lại và kể
ra cho cả thế giới. Tôi đã hoàn thành lời hứa thầm lặng của mình với ông.
Sau này,
tôi còn nghĩ ra thêm nhiều câu hỏi về vụ ném bom mà tôi muốn được giải đáp.
Nhưng tôi cũng đã giữ lời hứa với Katie. Tôi đã nói rằng chúng tôi sẽ chỉ khám
phá điều đó một lần duy nhất. Và chúng tôi chưa bao giờ quay lại. Lạy Chúa! Một
lần là quá đủ!
Trong những
buổi làm việc sau này, tôi được biết rằng sau cái chết đầy chấn thương tại
Hiroshima, cô đã bước vào một nơi nghỉ ngơi của linh hồn ở phía bên kia trong một
thời gian. Đây là một nơi đặc biệt dành cho những cái chết như vậy. Cô cảm thấy
mình đã giải trừ được rất nhiều nghiệp lực nhờ cái chết kéo dài mà mình đã trải
qua. Sau đó, cô theo học tại trường học trên cõi linh hồn, nơi các bậc thầy và
người hướng dẫn giúp đánh giá lại kiếp sống đó. Đó chính là nơi cô đang ở khi
được gọi cho nhiệm vụ này và cho sự hoán đổi linh hồn với thực thể trước đó từng
chiếm giữ cơ thể của Katie. (Những trạng thái hiện hữu này được khám phá sâu
hơn trong cuốn sách Conversations with a Spirit của tôi.)
Khi tôi gặp
Katie vào tuần sau, sau khi đã trải nghiệm cái chết của Nogorigatu, cô nói rằng
cô cảm thấy tuyệt vời. Một gánh nặng lớn đã được trút bỏ. Cô biết chắc chắn
không chút nghi ngờ rằng ký ức ấy sẽ không bao giờ làm phiền cô nữa. Cô hân
hoan đến mức cả hai chúng tôi đều biết rằng tất cả những gì đã cùng nhau trải
qua để có được câu chuyện này là hoàn toàn xứng đáng. Cô bắt đầu thay đổi sau
trải nghiệm đó. Và khi chúng tôi tiếp tục làm việc cùng nhau, cô bắt đầu trưởng
thành rất nhanh.
