Một Linh Hồn Nhớ Về Hiroshima - Chương 3

 

Chương 3

 

Những kiếp sống nghỉ ngơi




CHÚNG TÔI ĐÃ ĐẠT ĐƯỢC BƯỚC ĐỘT PHÁ BAN ĐẦU và khám phá ra rằng Katie là một đối tượng xuất thần xuất sắc. Cô hơi choáng ngợp và bắt đầu hoài nghi về nguồn gốc của câu chuyện vừa rồi. Cô hỏi tôi làm sao có thể biết được một ký ức là thật. Làm sao tôi biết đó không chỉ là trí tưởng tượng phóng túng của cô?

 

Tôi giải thích rằng nếu đối tượng thể hiện cảm xúc thật, thì thông tin đó là đáng tin cậy, bởi dưới trạng thái thôi miên, cảm xúc thật không thể bị giả tạo. Sharon đã bộc lộ nỗi buồn chân thật khi cha mình qua đời ở Colorado, và sự đau đớn khi chết quá trẻ trong lúc sinh con. Cô cảm thấy luyến tiếc khi phải rời bỏ chồng mình và cuộc sống nơi đó. Khi những cảm xúc rất con người như vậy được thể hiện, bạn biết rằng mình đã chạm đến cốt lõi. Bạn đã mở ra được điều gì đó rất sâu bên trong, vốn đang chờ được bước ra ánh sáng.

 

Khi tỉnh lại, đối tượng thường cảm thấy ngượng ngùng. Tâm trí ý thức của họ nói với họ rằng họ đã “ngốc nghếch”, vì những sự kiện đó chẳng liên quan gì đến họ cả. Đây chính là cái gọi là “logic” của tâm trí ý thức. Nó cố giải thích cho qua một điều mà nó không muốn hiểu, bằng cách nói đại loại: “Chắc là bạn đã đọc đâu đó, hoặc thấy trên phim hay tivi.” Nhưng khi suy ngẫm lại, đối tượng thường nhận ra rằng những sự kiện ấy được cảm nhận quá sâu sắc, quá thật để có thể chỉ là tưởng tượng. Cảm xúc chính là chìa khóa.

 

Sau lời giải thích đó, Katie chỉ đơn giản nói: “Tốt rồi, vậy là đủ. Đó là tất cả những gì tôi muốn biết. Bạn đã trả lời được câu hỏi của tôi… một điều tôi vẫn luôn băn khoăn. Tôi không muốn nói về chuyện này lúc này… có thể là một ngày nào đó.” Cô không giải thích thêm, nhưng nét mặt cô đã khác đi. Thái độ vô tư thường ngày biến mất, cô trở nên nghiêm túc và như đang chìm trong suy nghĩ. Tôi có cảm giác rằng có điều gì đó đang khiến cô bận lòng, không liên quan gì đến kiếp sống ở Colorado, nhưng lúc đó tôi chưa đủ thân với cô để hỏi. Tôi chỉ nói rằng bất cứ khi nào cô sẵn sàng, chúng tôi có thể nói về nó.

 

Trong buổi làm việc tiếp theo, tôi thiết lập cho Katie khả năng đi vào trạng thái thôi miên sâu thông qua một từ khóa. Cách này thường được dùng để thuận tiện cho người dẫn dắt (là tôi), vì không cần phải thực hiện một quá trình dẫn nhập dài. Khi một đối tượng đã được “lập trình” theo cách này, người thôi miên chỉ cần nhắc đến từ khóa (có thể là bất cứ từ gì), và đối tượng sẽ lập tức đi vào trạng thái thôi miên sâu.

 

Tôi luôn thêm vào gợi ý rằng họ chỉ đi vào trạng thái đó khi chính họ sẵn sàng. Bằng cách này, đối tượng biết rằng họ vẫn đang kiểm soát tình huống, và không cần phải sợ rằng tôi sẽ thôi miên họ vào lúc không thuận tiện hoặc trái với ý muốn của họ. Kỹ thuật này đã chứng minh là rất hữu ích trong việc xây dựng mối liên kết, vì các đối tượng nhận ra rằng họ không cần phải sợ tôi và biết rằng tôi chỉ làm việc trong sự hợp tác với họ. Điều này cũng giúp xóa bỏ hình ảnh phổ biến về những nhà thôi miên sân khấu, những người chỉ cần búng tay là bắt người ta làm đủ thứ trò xấu hổ.

 

Trong vài tuần tiếp theo khi tôi và Katie làm việc cùng nhau, tôi để cho tiềm thức của cô tự chọn lựa những kiếp sống mà chúng tôi sẽ khám phá. Lúc này tôi vẫn chưa định hướng cô đi đến đâu cụ thể, và chúng tôi đã chạm đến một vài kiếp sống nghỉ ngơi không mấy nổi bật.

 

Một “kiếp sống nghỉ ngơi” có thể được định nghĩa là một kiếp sống không đáng kể, dù cá nhân tôi không nghĩ rằng bất kỳ kiếp sống nào là thật sự không đáng kể. Mỗi kiếp sống đều là câu chuyện độc nhất của một con người, và vì thế, tất cả đều có giá trị. Một kiếp sống nghỉ ngơi có thể dài hoặc ngắn. Đó là một kiếp mà thực thể dường như trôi qua một cuộc sống tẻ nhạt, đơn điệu, tưởng như vô nghĩa, nơi chẳng có điều gì thật sự phi thường xảy ra.

 

Chúng ta đều biết những người như vậy - những người dường như lướt qua cuộc đời một cách nhẹ nhàng, chẳng có gì làm họ bận tâm. Họ không gây sóng gió. Nghiệp có thể được trả và được giải quyết trong một kiếp sống như thế, nhưng dường như không tạo thêm nghiệp mới. Tôi nghĩ rằng thỉnh thoảng ai cũng cần một kiếp sống như vậy, vì chúng ta không thể liên tục đi từ kiếp sống đầy chấn thương này sang kiếp sống đầy chấn thương khác mà không có lúc nghỉ ngơi.

 

Kiếp sống nghỉ ngơi là hoàn hảo cho mục đích đó, nên nó vẫn có giá trị, dù nhân dạng có thể trông nhạt nhòa và không quan trọng. Điều này cũng có thể giúp chúng ta hiểu hơn về những người trong cuộc sống hiện tại của mình - những người đang sống kiểu đời sống này. Chúng ta nên nhận ra rằng mình không thể phán xét họ, nếu không biết họ đang “nghỉ ngơi” sau một kiểu kiếp sống như thế nào, họ đã từng đạt được những gì trước đó, và họ có thể sẽ đạt được điều gì trong lần tiếp theo.

 

Như tôi đã nói, đây thường là kiểu kiếp sống mà tiềm thức chọn để xem xét khi một đối tượng mới bắt đầu thử nghiệm hồi quy. Kiếp sống của Sharon ở Colorado là một ví dụ điển hình. Khi những kiếp sống như vậy được chọn, tôi luôn biết rằng có một chấn thương khá nặng nề nào đó trong quá khứ đang được tạm thời che giấu. Mục đích của sự dẫn dắt của tôi là xây dựng mối liên kết với tiềm thức của đối tượng, để khi nhân dạng cảm thấy sẵn sàng đối diện, những kiếp sống quan trọng hơn cũng sẽ được hé lộ. Dưới đây là ba kiếp sống như thế đã được gặp trong giai đoạn thử nghiệm ban đầu này.

 

Một trong số đó là Joshua, một cậu bé mồ côi sống trong rừng. Cậu chỉ mới 12 tuổi nhưng đã khá thành thạo trong việc tự chăm sóc bản thân. Cậu nói cậu buộc phải như vậy, vì chẳng còn ai khác để tin cậy.

 

D: Chuyện gì đã xảy ra với mẹ và cha của con?

 

K: Mẹ chết rồi. Bà bị lính giết. Con chưa từng biết cha mình.

 

Giọng nói mang âm sắc Anh rất rõ. Giọng rất nhỏ nhẹ. Tôi có cảm giác Joshua không quen nói chuyện với người khác. Câu trả lời của cậu chậm rãi, như thể phải suy nghĩ kỹ trước khi nói.

 

D: Sao họ lại giết bà?

 

K: Lính thì làm gì mà có lý do. Họ muốn chiếm thị trấn. Khu đó có giao tranh. Ai mà biết là vì cái gì? Cũng chẳng quan trọng. Lính kéo vào giữa thị trấn. Họ đốt trụi thị trấn, bỏ mặc con cho đến chết. (Giọng rất khẽ, rụt rè và mang nét trẻ con.)

 

D: Nếu con ở lại trong thị trấn, chẳng phải con sẽ ổn sao?

 

K: Họ đã giết bà ấy rồi! Có khi họ cũng giết con!

 

D: Con ở xa làng lắm không?

 

K: Chắc nửa ngày đường.

 

D: Khi đói thì con làm gì?

 

K: Ra ngoài đặt bẫy bắt thỏ, hoặc có khi bắt được cả heo. Trộm gà rồi nướng ăn. Đôi khi chỉ ăn trái rừng nếu đúng mùa. Khi trời lạnh thì khó kiếm đồ ăn, nhưng mùa xuân thì cũng tạm ổn.

 

D: Con ngủ ở đâu?

 

K: Có khi con dựng một cái lều bằng cây. Có khi ngủ ngoài trời dưới sao, nếu không mưa.

 

D: Còn quần áo thì sao?

 

K: Lột da mấy con thú con bắt được, rồi thuộc da.

 

D: Ừm, sống như vậy thì hơi lạ.

 

K: Có thể vài người nghĩ vậy. Nhưng con tự lo được cho mình. Không phải lo cho ai ngoài bản thân.

 

D: Con có bao giờ thấy buồn vì ở một mình không?

 

K: Không. Con không bao giờ một mình. Con nói chuyện với thú rừng và chim chóc, ít ra tụi nó không cãi nhau với con. Con có nhiều việc để làm. Con người phiền lắm.

 

D: Con có họ không, Joshua?

 

K: Chỉ người giàu mới có họ.

 

D: Sao con lại sống trong rừng?

 

K: Ra ngoài một mình không an toàn. Nhất là ngoài đồng trống. Người của viên cảnh sát trưởng có thể bắt được. Họ lúc nào cũng cần nô lệ. Nông nô.

 

D: Sao họ lại muốn bắt con nếu con chẳng làm phiền ai?

 

K: Trộm nai của nhà vua mà không làm phiền ai à? Người ta giết người chỉ vì ít hơn thế. Con từng thấy người bị treo cổ vì chuyện đó.

 

D: Con nghĩ cảnh sát trưởng có biết con ở ngoài đó không?

 

K: Không. Con cẩn thận lắm.

 

D: Những người khác sống ở đâu?

 

K: Chủ yếu trong thị trấn. Quanh các pháo đài. Con không tới đó; mọi người không tốt lắm.

 

Tôi biết rằng mình sẽ gặp khó khăn hơn trong việc xác định mốc thời gian và quốc gia nếu cậu bé sống ẩn dật như một người rừng. Cậu nói đó là Brittany, nhưng những chi tiết như nai của nhà vua, cảnh sát trưởng và nô lệ khiến tôi nghĩ nhiều hơn đến nước Anh. Tôi tự hỏi liệu những điều này có tồn tại ở các quốc gia khác ngoài Anh hay không. Tôi phải nghĩ ra những câu hỏi có thể giúp xác định thời kỳ.

 

D: Con có từng nghe ai nói đó là năm nào không?

 

K: (Ngừng lại, rồi như đang đọc thuộc lòng.) Năm của Chúa chúng ta… mười một… sáu… sáu.

 

Tôi rất mừng khi có được thông tin này, vì năm tháng là thứ khó lấy được nhất trong các ca hồi quy.

 

D: Những người khác trông như thế nào? Con có thấy họ không?

 

K: Có, đôi khi con thấy họ từ xa. Phụ nữ mặc váy dài, chắc là bằng len. Đàn ông mặc áo jerkin và áo choàng ngắn (không rõ), với quần.

 

Nghiên cứu cho thấy jerkin là một loại áo khoác ngắn giống áo ghi-lê, thường làm bằng da. Có thể “breech cloak” là một loại áo choàng ngắn chỉ dài tới phần quần (breeches). Những trang phục này phù hợp với thế kỷ 12 và 13.

 

D: Họ có đội gì trên đầu không?

 

K: Có người có. Có người đội mũ. Có người mặc áo choàng có mũ trùm.

 

D: Phụ nữ có đội gì trên đầu không?

 

K: Người giàu thì có. Người giàu đội lưới. (Tôi không hiểu.) Lưới! Caul.

 

Lúc đó tôi chưa hiểu Joshua nói gì, nhưng sau này tôi tìm ra rằng điều đó hoàn toàn đúng theo kiểu trang phục thời kỳ ấy. Phụ nữ giàu có thường đội lưới phủ phía sau tóc.

 

Tôi quyết định đưa Joshua tiến đến một ngày quan trọng trong cuộc đời cậu, dù tôi không thể tưởng tượng được điều gì có thể là quan trọng với một người sống một mình trong rừng như vậy. Ngày nào hẳn cũng giống ngày nào. Tôi đếm cậu tiến lên và hỏi cậu đang làm gì. Cậu đang trốn trên một cái cây, quan sát một đoàn người đi xuyên qua khu rừng.

 

K: Giống như là có những người giàu có, sang trọng, ăn mặc rất cầu kỳ. Rất nhiều lính. Phải coi chừng để không ai thấy con.

 

D: Đúng rồi, con phải cẩn thận. Chỉ có lính thôi sao?

 

K: Không, có một cái… cái hộp trông lạ lắm. Có ngựa kéo, một con ở phía trước và một con ở phía sau. (Tôi nghĩ cậu bé đang nói đến xe ngựa.) Bên trong có một người phụ nữ. Nó có màn che. Bà ấy kéo màn lại hết rồi thò đầu ra ngoài. Có vài người đàn ông ăn mặc rất sang. Họ khoác những cái áo choàng trông mềm lắm, và có mấy cái ghim to giữ áo. Đeo rất nhiều trang sức.

 

D: Nghe có vẻ họ rất giàu.

 

K: Phải giàu mới có nhiều lính như vậy.

 

D: Những người đàn ông ăn mặc sang trọng đó có đội mũ không?

 

K: Không. Có một người đội một thứ bằng bạc vòng quanh đầu thôi.

 

Cậu nói họ đều cạo râu sạch. Tôi hỏi lính ăn mặc thế nào, vì tôi vẫn tin rằng có thể học được rất nhiều về thời kỳ lịch sử qua quần áo.

 

K: Họ mặc mấy cái áo… xích… áo giáp xích nặng lắm. Đội mũ sắt, tròn tròn, có một miếng che xuống mũi và hai bên mặt. Kiếm thì to, dài lắm.

 

Joshua không hề biết những người đó là ai hay họ đi đâu. Chỉ đơn giản là rất hiếm khi có ai đi ngang qua phần rừng nơi cậu sống.

 

K: Chắc là đưa ai đó đi lấy chồng. Muốn chắc là bà ấy tới nơi an toàn. Bà ấy trông không vui chút nào. Có ai đó nói tên… Winifred… Swanson? Đại loại vậy.

 

D: Họ có nói chuyện với nhau không?

 

K: Có. Nghe loáng thoáng thôi.

 

D: Có ai ở trong cái hộp đó cùng bà ấy không?

 

K: Không biết. Chỉ thấy mỗi bà ấy, thò đầu ra ngoài.

 

D: Con nghĩ họ đang đi đâu?

 

K: Không biết, chắc là tới lâu đài. Có một cái cách đây không xa. Ai mà biết được?

 

Tôi yêu cầu mô tả kỹ hơn cái “hộp” mà người phụ nữ đang ngồi.

 

K: Nó có cái mái trông rất chắc, mấy cái trụ tròn ở các góc. Có vách hai bên, mỗi bên một cái cửa sổ. Và nó được treo giữa hai con ngựa, một con trước, một con sau.

 

D: (Tôi vẫn nghĩ Joshua đang nói về một cỗ xe ngựa bình thường.) Có bao nhiêu con ngựa kéo nó?

 

K: Chỉ có một con phía trước và một con phía sau. Chúng mang dây cương.

 

Tôi luôn thấy lạ về việc người ta xem ngày nào là “quan trọng.” Khi đó là một chuyện như thế này, nó cho thấy đối tượng không hề tưởng tượng ra, vì chẳng có gì kịch tính. Tôi lại đưa Katie tiến đến một ngày quan trọng khác trong cuộc đời Joshua, và cô bắt đầu thở gấp, trở nên hoảng loạn.

 

K: Không thấy được! Đau quá!

 

Điều này xảy ra đột ngột, nhưng tôi trấn an Katie rằng cô sẽ không thực sự cảm nhận các cảm giác thể chất. Cô có thể tách mình ra khỏi phần đó nếu muốn, để có thể kể lại cho tôi một cách khách quan điều đã xảy ra.

 

K: (Vẫn thở gấp.) Bị bắn rồi! Họ bắt được con! Một tên lính bắt được con… khi con đang bắt nai… Họ bắn con!

 

D: Bắt nai thì có gì sai?

 

K: Của Nhà Vua… của giới quý tộc. Con không có quyền.

 

Joshua mới chỉ 15 tuổi khi chuyện này xảy ra, và rõ ràng là cậu đã sống phần lớn cuộc đời mình trong rừng, dựa vào sự lanh trí để tồn tại - một ví dụ hoàn hảo của một kiếp sống nghỉ ngơi. Cuộc sống của cậu ít biến động đến mức cậu rất khó tìm ra những ngày “quan trọng” cho tôi.

 

Một chi tiết thú vị là mô tả của cậu về phương tiện giống cái hộp đó. Ban đầu tôi tự nhiên nghĩ đó là xe ngựa, cho đến khi bắt đầu nghiên cứu. Xe ngựa đúng như chúng ta biết ngày nay thực ra chỉ xuất hiện muộn hơn rất nhiều, chủ yếu do hệ thống đường sá phát triển chậm. Điều này khiến tôi ngạc nhiên, vì chúng ta thường xuyên thấy xe ngựa trong các bộ phim lấy bối cảnh thời kỳ này.

 

Tôi phát hiện ra rằng phương tiện được mô tả là một kiệu - một thứ mà tôi không nhớ là mình từng thấy trong các bộ phim về giai đoạn này. Hình ảnh của kiệu trông rất giống với mô tả của Joshua: một cấu trúc dạng hộp, có màn che, không có bánh xe. Nó có các trụ ở bốn góc và được đỡ bằng hai cây đòn dài, gắn vào hai con ngựa - một phía trước và một phía sau - với người cưỡi ngựa để điều khiển. Tôi được biết rằng kiệu hiếm khi xuất hiện trong phim ảnh hay truyền hình vì rất khó huấn luyện con ngựa phía sau đi theo một thứ mà nó không thể nhìn thấy đường đi.

 

Một trích dẫn từ Bách khoa toàn thư của Colliers về kiệu: “Trong thời Trung Cổ, đường sá ở châu Âu rất ít và lầy lội, nên cưỡi ngựa hoặc la là phương tiện di chuyển thông thường. Cách đi lại này rất khó khăn đối với người già và người bệnh, và được cho là không phù hợp với phẩm giá của phụ nữ thuộc tầng lớp cao. Vì vậy, kiệu - một dạng ghế nằm với cấu trúc bao kín phía trên, giúp bảo vệ hành khách khỏi mưa gió - đã được những người có điều kiện sử dụng rộng rãi. Những chiếc kiệu như vậy, được ngựa hoặc la đỡ và kéo, được dùng ở châu Âu từ thế kỷ 11 đến thế kỷ 17.”

 

Nếu không có chi tiết về chiếc kiệu, đây có thể đã bị xem là một ca hồi quy đơn giản, không có gì đáng chú ý. Nhưng chính chi tiết đó cho thấy Katie không hề dựa vào thông tin trong tâm trí ý thức của mình từ phim ảnh hay truyền hình.

 

Dù đây là lần đầu tôi gặp hình ảnh kiệu, nhưng không phải là lần cuối. Nó xuất hiện nhiều lần khi tôi làm việc với các đối tượng khác nhau. Rõ ràng nó từng là một phương tiện di chuyển khá phổ biến trong giai đoạn đó. Và cho đến nay, tôi chưa từng có đối tượng nào “lỡ miệng” đưa xe ngựa vào sai thời kỳ - điều này, tự nó, cũng nói lên điều gì đó liên quan đến các thí nghiệm hồi quy luân hồi.

 

MỘT VÍ DỤ TƯƠNG TỰ về kiếp sống nghỉ ngơi xuất hiện một tuần sau đó, khi nhân dạng tiếp theo lộ diện với giọng nói rất nhẹ, đôi lúc khó nghe. Nhịp nói cũng rất chậm. Đây là một người không quen bị thúc ép.

 

K: Tôi thấy rừng… những cây to khổng lồ… Trời đang mưa.

 

D: Bạn đang ở đâu? Bạn có biết không?

 

K: Tôi ở nhà mình, trên đất của mình. (Ngừng lại) Đất này không có tên, nó chỉ là… đất.

 

Điều này xảy ra rất nhiều lần khi tôi gặp các nhân dạng nguyên thủy. Họ thường gọi nơi họ sống là “đất,” và họ chỉ đơn giản là “con người.”

 

D: Bạn đang làm gì?

 

K: Chúng tôi đang săn.

 

D: “Chúng tôi” là ai? Có người khác đi cùng bạn không?

 

K: Có anh trai tôi.

 

D: Bạn đang săn gì?

 

K: Săn thức ăn. Có thể là khỉ.

 

D: Bạn có dùng vũ khí gì không?

 

K: Tôi dùng ống phóng phi tiêu, hoặc đôi khi đặt bẫy… loại bật lên. Chúng tôi có ống thổi. Và có cung tên.

 

Nhân dạng này tự nhận là nam, tên Tocoricam (phiên âm). Tôi hỏi anh ta ăn mặc thế nào.

 

K: Tôi mặc… (như đang tìm từ)… khố. Và giày. Làm bằng da… khâu lại với nhau.

 

Nhân dạng này dường như đang cố tìm những từ phù hợp. Tôi không tin rằng anh ta có sẵn từ vựng để trả lời một số câu hỏi của tôi.

 

D: Mặc ít đồ vậy không lạnh sao?

 

K: Lúc nào cũng nóng.

 

Điều này giống như làm thám tử, lần theo từng manh mối có được. Vẫn đang cố xác định đây là bộ tộc bản địa nào, tôi hỏi về màu da. Anh ta nói da mình “hơi nâu đỏ, giống màu đất.” Tóc đen. Điều này khiến tôi loại trừ khả năng sống trong rừng rậm châu Phi. Anh ta cũng nói mình khoảng 20 mùa hè tuổi.

 

D: Bạn sống gần đây không?

 

K: Chúng tôi sống ở phía dưới dòng sông một đoạn.

 

Tôi luôn có thể khai thác thêm thông tin từ điều kiện sinh sống, nên tôi đếm anh ta đến nơi ở và yêu cầu mô tả. Tôi đương nhiên nghĩ sẽ là một cái lều trong một ngôi làng, vì đó thường là câu trả lời quen thuộc.

 

K: Chúng tôi… khoét vào sườn vách đá và làm một cái hang rất nhỏ. Chỉ đủ để tránh mưa. Có một đống lửa. Và có mấy tấm chiếu để mọi người ngủ phía trong.

 

(Đây là một câu trả lời hoàn toàn bất ngờ.)

 

D: Gia đình bạn có đông không?

 

K: Chỉ khoảng năm người. Có anh trai tôi và tôi. Có em gái tôi và cha mẹ… mẹ và cha.

 

D: Vậy bạn đi săn để nuôi cả gia đình?

 

K: Đúng. Muốn sống thì phải ăn. Chúng tôi tìm củ rễ và… như vậy là tốt.

 

D: Ngoài gia đình bạn, còn những gia đình khác không?

 

K: Có. Có nhiều người đang ẩn náu. Đôi khi chúng tôi gặp người khác, nhưng đa phần là ở riêng.

 

D: Các bạn có trồng trọt gì không?

 

K: Không. Muốn trồng thì phải ở yên một chỗ. Mà ở yên một chỗ thì sẽ bị tìm ra. Chúng tôi sống nhờ đất. Ở đây có đủ cho những người biết cách sống. Chúng tôi phải luôn di chuyển. Không an toàn. Những kẻ lạ đến và tìm người để bắt đi. Chúng tôi phải trốn.

 

D: Bạn gọi họ là “kẻ lạ.” Sao lại gọi như vậy?

 

K: Họ cưỡi trên những con thú to lớn và giết người khác như thể… người khác chẳng là gì đối với họ. Họ không thuộc về vùng đất này.

 

D: Ý bạn là họ đến từ nơi khác? Họ khác với người của bạn sao?

 

K: Đúng. Da họ sáng hơn chúng tôi. Và họ là những người đàn ông rất giận dữ. Họ có… những thứ lớn… (lại khó diễn tả)… phun khói và người ta ngã xuống. Không tốt chút nào.

 

Rõ ràng đây là lần đầu anh ta thấy súng được sử dụng.

 

D: Bạn nói họ cưỡi trên những con thú lớn? Những con thú đó trông thế nào?

 

K: Gần cao bằng một người. Có bốn chân. Tai nhọn. Cổ dài, to. Đầu lớn, mắt tròn đảo qua đảo lại.

 

Đây là một mô tả rất xuất sắc về một con ngựa, được kể bởi một người chưa từng nhìn thấy ngựa bao giờ. Việc cậu nhắc đến đôi mắt to, đảo liên tục cho thấy rõ ràng cậu đã bị sinh vật lạ lùng, nhún nhảy này làm cho kinh hãi.

 

D: Trước đó bạn chưa từng thấy con vật nào như vậy sao?

K: Chưa. Chúng không thuộc về nơi này.

 

D: Bạn nói những kẻ lạ đó cưỡi những con thú này, vào rừng và bắt người đi. Bạn có biết họ bắt người đi đâu không?

 

K: Có. Họ muốn người ta làm việc trong mỏ của họ. Người ta chết ở đó; đó không phải là nơi tốt.

 

D: Họ có những mỏ gì vậy?

 

K: Họ lấy đá ra khỏi đất. Ai mà biết họ muốn làm gì với nó? Đất không thích chuyện này.

 

D: Những mỏ đó có gần nơi bạn sống không?

 

K: Không. Ở bên kia dãy núi.

 

Như mọi khi, tôi điều chỉnh câu hỏi và thái độ của mình cho phù hợp với kiểu nhân dạng mà tôi đang nói chuyện.

 

D: Vậy đi tới đó là rời khỏi vùng đất của bạn, đúng không?

 

K: Đúng. Và là đi vào nguy hiểm. Chúng tôi sẽ ở lại… đây, nơi tương đối an toàn. Trước kia chúng tôi không sống như vậy. Khi tôi còn nhỏ, họ càn quét các ngôi làng. Họ đến, lùa người như lùa thú và bắt đi.

 

D: Bộ tộc của bạn có tên không?

 

K: Chúng tôi chỉ được gọi là “con người”… Con người là một với đất, và đất kêu khóc.

 

D: Đó là lý do bạn phải luôn di chuyển, để họ không tìm thấy. Họ có thường vào rừng không?

 

K: Thường thì họ ở… khá gần, nhưng đôi khi họ có… người, họ đi thành nhóm và tổ chức những cuộc càn quét. Ai mà biết vì sao họ làm vậy?

 

Điều này khá thú vị, nhưng vẫn chưa cho tôi biết rõ ràng là cậu đang ở đâu. Tôi đưa cậu tiến tới một ngày quan trọng trong cuộc đời, dù tôi nghĩ khả năng có chuyện gì bất thường xảy ra là rất thấp, trừ khi cậu bị những “kẻ lạ” đó bắt được.

 

K: Tôi đang ở trong xuồng. Tôi đi xuôi theo sông. (Giọng cậu chậm rãi, có chủ ý, với một âm sắc lạ.) Rừng rất rậm. Cây mọc sát mép sông. Có rất nhiều thú… và bầu trời thì xanh lắm.

 

D: Bạn lấy chiếc xuồng đó ở đâu?

 

K: Chúng tôi làm ra. Chúng tôi lấy một thân cây đổ… rồi khoét rỗng ra.

 

D: Làm vậy có khó không?

 

K: Chỉ là tốn thời gian.

 

D: Bạn có dụng cụ gì để làm không?

K: Đá sắc. Nó khoét được vào gỗ đã khô.

 

D: Hẳn là mất nhiều thời gian lắm.

 

K: Vài ngày.

 

D: Bạn đang đi đâu bằng chiếc xuồng đó?

 

K: Chúng tôi đi tới một nơi an toàn hơn. Nơi mà những kẻ lạ không đến. Chúng tôi chỉ muốn được ở một mình. Không phải lo bị bắt. Những kẻ lạ đó, họ đến và bắt người của chúng tôi tới những cái hố lớn trong đất để làm việc, và không bao giờ thấy họ quay lại nữa.

 

D: Những kẻ lạ đó đến từ đâu, bạn có biết không?

 

K: Họ đến từ bên ngoài rừng rậm, cưỡi những con thú lớn. Tôi không biết… Chúng tôi đi tới nơi mà họ sẽ không tìm thấy.

 

D: Mất lâu không để tìm được nơi như vậy, nơi bạn sẽ an toàn?

 

K: Ai mà biết khi nào chúng tôi sẽ thấy một nơi có thể cho chúng tôi sự sống? Chúng tôi sẽ biết.

 

Tôi để cậu tiếp tục xuôi dòng tìm kiếm sự an toàn, rồi đưa Katie tiến tới một ngày quan trọng khác trong kiếp sống đó.

 

K: (Thở dài) Tôi đang nhìn thân xác. Nó run lên. Nó bị sốt… và nó đang chết.

 

D: Thân xác đang ở đâu?

 

K: Bên bờ sông. Chúng tôi đã dựng trại ở đó, và… cơn sốt đến. Có những lúc… nếu một người bị sốt, đôi khi vỏ cây có thể giúp. Nhưng không có loại cây đó… nên tôi đang chết. Cha tôi, ông không phải là thầy thuốc. Ông không có đủ kiến thức. (Thở dài) Ông buồn lắm.

 

D: Nếu tìm được đúng loại cây đó thì có thể giúp được không?

 

K: Không phải lúc nào cũng chắc. Chỉ đôi khi thôi. Đó là ý của thần linh.

 

D: Khi chết như vậy, bạn có lớn tuổi không?

 

K: Có lẽ… hai mươi mốt, hai mươi hai mùa hè. Đã tới lúc của tôi.

 

D: Những kẻ lạ đó có bao giờ tìm thấy người của bạn, gia đình bạn không?

 

K: Không, khi tôi còn ở đó thì không. Họ đã ẩn mình.

 

Đây lại là một ví dụ rất điển hình của một kiếp sống nghỉ ngơi. Thực thể này không tạo thêm nghiệp mới và sống một cuộc đời rất bình lặng. Một lần nữa, đây đã chỉ là một ca hồi quy đơn giản, nếu không có mô tả về con ngựa và những kẻ lạ. Đây là những chi tiết sẽ không xuất hiện nếu ai đó đang cố tưởng tượng. Trong một câu chuyện hư cấu, hẳn đã có nhiều kịch tính hơn rất nhiều. Và thực ra, đây là chất liệu quá “màu mỡ” để dựng nên một cuộc phiêu lưu, nếu đó là mục đích.

 

Có một vài manh mối trong ca hồi quy này giúp tôi xác định bối cảnh và thời gian. Tôi cho rằng nó diễn ra đâu đó trong các khu rừng rậm Nam Mỹ. Loại vỏ cây được nhắc tới rất có thể là quinine, lấy từ cây canhkina, vốn có nguồn gốc ở dãy Andes, từ Colombia đến Peru, và được dùng để chữa bệnh sốt rét - “cơn sốt” mà gần như chắc chắn cậu đã chết vì nó.

 

Việc người Tây Ban Nha xâm chiếm Nam Mỹ bắt đầu vào nửa sau thế kỷ 16. Khát khao của cải, họ bắt đầu khai thác ngọc lục bảo và kim loại quý. Nghiên cứu cho thấy người bản địa Nam Mỹ đã bị bóc lột tàn nhẫn trong giai đoạn này và bị đưa vào làm việc trong các hầm mỏ dưới điều kiện vô cùng khắc nghiệt. Trong các buổi làm việc sau này, mỗi khi tôi đưa Katie đến năm 1650, tôi lại gặp nhân dạng bản địa này. Điều đó phù hợp với thời kỳ thuộc địa Tây Ban Nha.

 

MỘT KIẾP SỐNG NGHỈ NGƠI KHÁC xuất hiện trong những tuần đầu tiên là Gretchen, một đứa trẻ năm tuổi với hai bím tóc vàng dài.

 

D: Con thấy gì?

 

K: Con thấy một lâu đài trên đồi. Nó có những chóp cao to ở mỗi góc, làm bằng đá xám. Xung quanh có đất đai, kiểu như có hàng rào bao quanh. Rất lớn.

(Lúc này Katie nói với giọng Đức rất rõ, khiến một số từ khó nghe.)

 

D: Con đang ở đâu?

 

K: Ở dưới rừng.

 

D: Có ai xung quanh không?

 

K: Cha con ở đằng kia, đang chặt gỗ.

 

D: Con đang làm gì?

 

K: Hái hoa.

 

D: Con sống trong lâu đài đó à?

 

K: Nein. Con sống trong một căn nhà nhỏ.

 

D: Cha con sẽ làm gì với số gỗ ông chặt được?

 

K: Cha sẽ bán nó trong thị trấn. Không hẳn là thị trấn, chỉ là một ngôi làng thôi.

 

Cô bé nói họ ở không xa làng, nhưng không nhớ ra tên. Tôi hỏi lâu đài có tên không.

 

K: Braunfit. (Phiên âm: Brauns-fai.)

 

D: Con có biết ai sống trong lâu đài không?

 

K: Công tước. (Khi hỏi tên thì cô không nhớ.)

 

D: Trong gia đình con chỉ có cha con thôi sao?

 

K: Ô, nein. Có anh con là Hans. Chỉ có Hans và con… và cha.

 

D: Mẹ con đâu rồi?

 

K: Mẹ mất khi con còn bé. Bệnh dịch tả.

 

Khi tôi hỏi tên cha, cô trả lời là “Wilhelm” với cách phát âm tiếng Đức rất chuẩn. Tôi đưa cô đến nơi ở của mình để mô tả.

 

K: Tường màu trắng, có một lò sưởi rất lớn, mở, với một cái vòm cong. Chỉ có hai phòng thôi, phòng trước và một phòng ngủ.

 

D: Mọi người ngủ chung một phòng à?

 

K: Tất cả trừ cha. Cha ngủ ở phòng trước.

 

D: Trong phòng trước có đồ đạc gì không?

 

K: Có cái giường rất lớn. Và vài cái ghế với một cái bàn.

 

D: Ngôi nhà có vẻ không lớn lắm.

 

K: Ô, nein. Nhưng vậy là đủ rồi.

 

D: Ai nấu ăn?

 

K: Con với Hans. Có một cái tay đòn treo trên lò sưởi để treo nồi. Và nếu nấu thịt thì có cây xiên để quay. Ai cũng phải làm việc. Nếu không làm thì không có ăn.

 

Điều này nghe rất quen thuộc. Đó chính là cách dùng từ mà cô gái người Đức khác đã sử dụng trong cuốn sách đầu tiên của tôi, Five Lives Remembered (Năm cuộc đời được ghi nhớ).

 

K: Đôi khi, nếu cha bán được nhiều gỗ, thì chúng tôi có bánh mì đen; đôi khi cha mua được một con heo. Có lúc cha đi săn trong rừng và chúng tôi có thịt tươi. Có khi là nai, có khi là heo rừng.

 

D: Cha con dùng gì để giết những con thú mà ông săn được?

 

K: Cung và tên của cha.

 

Như thường lệ, tôi đặt một câu hỏi mang tính “kiểm tra” để loại trừ khả năng rất nhỏ là đối tượng đang tưởng tượng.

 

D: Vào mùa đông, khi không có gì mọc lên để ăn, con làm gì?

 

K: Dùng khoai tây, và hy vọng bẫy được vài con thỏ.

 

D: Con không bị đói chứ?

 

K: Ô, nein. Và chúng tôi giữ ấm được.

 

D: Gretchen, hôm nay con mặc đồ gì?

 

K: Hôm nay con mặc váy dirndl màu đỏ, với áo blouse trắng có hoa khắp áo.

 

Tôi chưa từng nghe đến dirndl cho tới khi bắt đầu nghiên cứu. Nó được mô tả là một chiếc váy xòe rộng, có tạp dề màu hoặc trắng, phần thân trên ôm sát. Trang phục này được mặc cùng áo blouse trắng hoặc khăn quàng, được nhét vào thân áo. Đây là trang phục truyền thống của vùng Alps thuộc Bavaria và Áo.

 

D: Con mang giày gì?

 

K: Giày gỗ.

 

Điều này làm tôi ngạc nhiên, nhưng tôi nhớ rằng Hà Lan không phải là nơi duy nhất người ta mang giày gỗ.

 

D: Mang vậy không khó đi sao?

 

K: Để giữ ấm chân, tụi con nhét rơm vào trong.

 

D: Nghe có vẻ khó đi lắm.

 

K: Đi riết rồi quen.

 

Tôi nghĩ cô bé còn quá nhỏ để kể thêm được nhiều điều, nên tôi đưa cô đến một ngày quan trọng khi cô lớn hơn.

 

K: Tụi con đi lên lâu đài.

 

D: Bây giờ con bao nhiêu tuổi?

 

K: Mười.

 

D: Sao lại đi lên lâu đài?

 

K: Cha con muốn xem có tìm được việc ở đó không.

 

D: Cha con không còn chặt gỗ nữa à?

 

K: Ja, nhưng miệng ăn thì ngày càng nhiều.

 

D: Cha con tìm việc gì?

 

K: Cha muốn làm ở chuồng ngựa. Và có thể con sẽ làm trong bếp. Con nghĩ con sẽ thích vậy.

 

D: Còn Hans thì sao? Anh con có đi không?

 

K: (Nhắc đến anh trai khiến cô bé buồn hẳn đi.) Hans đi rồi. Người ta bắt anh vào quân đội. Có chiến tranh. Lúc nào cũng có chiến tranh.

 

D: Ai bắt anh con đi?

 

K: Người của Công tước. (Giọng cô buồn.)

 

D: Con có nghe tin gì về anh ấy không?

 

K: Nein (không).

 

D: (Tôi quyết định quay lại chủ đề chính.) Con từng vào lâu đài bao giờ chưa?

 

K: (Kinh ngạc) Ô, nein.

 

D: Vậy đây hẳn là một trải nghiệm đặc biệt rồi. Bây giờ con đang làm gì?

 

K: Con ở trong bếp. Rộng lắm.

 

D: Con có phải là người duy nhất làm việc ở đó không?

 

K: Ô, nein. Có mười hầu bếp phụ nữ. Và bốn đầu bếp.

 

D: Đông vậy sao. Phải nấu cho nhiều người lắm hả?

 

K: Con không nấu, con chưa giỏi tới mức đó. Con chỉ chà rửa nồi thôi.

 

D: Con nghĩ con có được đi xem những chỗ khác trong lâu đài không?

 

K: Có thể, nếu con may mắn được phục vụ.

 

D: Con sẽ ở lại lâu đài hay quay về nhà?

 

K: Ô, nein, xa lắm. Tụi con sẽ ở lại lâu đài. Họ có một căn phòng phía trên bếp cho con ngủ.

 

D: Con ngủ chung với ai không?

 

K: Ja, với tất cả mấy cô làm bếp.

 

D: Cha con ngủ ở đâu?

 

K: Trong chuồng ngựa.

 

D: Vậy chắc là có nhiều ngựa lắm.

 

K: Ô, ja. Ra vào suốt.

 

Cô bé đang nói rằng cha cô sẽ được trả tiền cho công việc của mình, còn cô thì không, thì đột nhiên cô trở nên khó chịu. Khi tôi hỏi có chuyện gì, cô nói: “Lạnh quá!” rồi bắt đầu ho. Điều này khiến tôi rất ngạc nhiên.

 

D: Lạnh ở đâu? Trong bếp hay chỗ con ngủ?

 

K: Nein. (Giọng cô run run.)

 

D: Con đang ở đâu?

 

K: (Vẫn run.) Lạc rồi! (Tôi bối rối.) Trời đang tuyết rơi. (Cô lại ho.)

 

Đây là một ví dụ điển hình về sự mất ổn định mà các đối tượng thường gặp khi mới bắt đầu làm việc với hồi quy. Họ có xu hướng nhảy lung tung, cả tiến lẫn lùi trong dòng thời gian, và đôi khi thậm chí nhảy hẳn ra khỏi khung thời gian đó sang một kiếp sống khác. Điều này xảy ra tự phát, không cần dẫn dắt. Khi tiềm thức đã quen hơn với việc hồi quy, những cú “nhảy” như vậy thường chấm dứt và đối tượng có thể ổn định, giữ được cảnh đang diễn ra.

 

Vì Katie đang trải qua các triệu chứng thể chất, tôi đưa ra những gợi ý giúp cô cảm thấy dễ chịu hơn, rồi hỏi làm sao cô lại ra ngoài tuyết.

 

K: Tụi con đang quay về căn nhà nhỏ.

 

D: Sao lại quay về? Tôi tưởng con sẽ làm việc ở lâu đài?

 

K: Vì tụi con muốn lấy thêm đồ đạc, rồi tuyết kéo tới.

 

D: Tuyết rơi nhiều lắm hả?

 

K: Không thấy gì hết.

 

D: À, vậy nên con mới bị lạc. Cha con có đi cùng không?

 

K: Có. Cha mệt lắm.

 

D: Còn xa không?

 

K: Ai mà biết. Có khi tụi con đang đi vòng vòng.

 

D: Trời tối hay vẫn còn ban ngày?

 

K: Chắc vẫn còn chút ánh sáng, nhưng mây dày quá. Qua mấy hàng cây, tụi con không thấy được.

 

D: Vậy thì đúng là có thể đi vòng vòng rồi. Con định làm gì?

 

K: (Sợ hãi) Con không biết.

 

D: Được rồi, vậy chuyện gì xảy ra?

 

Tôi đếm đến ba và nói rằng cô sẽ biết chuyện gì đã xảy ra, và kể lại cũng sẽ không làm cô khó chịu.

 

K: (Ngừng một chút) Tụi con cố nhóm lửa.

 

D: Con có tìm được gỗ khô không?

 

K: (Buồn bã) Nein, không có gì cháy được.

 

D: Rồi chuyện gì xảy ra?

 

K: Trước tiên là con sói… từ trong rừng… nó tấn công cha con.

 

D: Sao con nghĩ nó tấn công cha con?

 

K: Sói thì sao không tấn công? Lúc nào chúng cũng đói.

 

D: Cha con có vũ khí gì không?

 

K: Chỉ có cây gậy. Cha cố đánh đuổi nó, nhưng nó mạnh hơn… Nó giết cha con!

 

D: Rồi con làm gì?

 

K: Con cố leo lên cây, nhưng không ích gì.

 

D: Chuyện gì xảy ra tiếp?

 

K: Con rời khỏi thân xác. Con sói giết con.

 

D: Cũng con sói đó à?

 

K: Một trong số chúng.

 

D: Lúc đó con bao nhiêu tuổi, Gretchen?

 

K: Mười một.

 

Điều này cho thấy cô bé đã tự nhảy tới trước một năm mà không cần tôi yêu cầu. Cô mười tuổi khi lần đầu lên lâu đài làm việc, rồi đột ngột chuyển sang ngày cô qua đời một năm sau đó.

 

Tôi đưa ra những chỉ dẫn và trấn an Katie trước khi đánh thức cô. Trong những buổi sau, khi chúng tôi đi ngược dòng thời gian một cách trật tự hơn, chúng tôi lại gặp Gretchen trong chính cảnh bị lạc trong rừng đó. Một lần nữa, cảnh này khiến cô run rẩy và gây ra cảm giác khổ sở vì lạnh và lạc lối.

 

Ban đầu tôi nghĩ cuộc đời của Gretchen diễn ra ở Đức, cho tới khi nhắc đến dirndl. Chi tiết đó thu hẹp phạm vi xuống Bavaria hoặc Áo. Kiếp sống này rất khó xác định niên đại, nếu không có chi tiết mẹ cô chết vì bệnh dịch tả. Điều này làm tôi bối rối, vì tôi biết dịch tả là một căn bệnh có nguồn gốc từ châu Á.

 

Nghiên cứu cho thấy dịch tả lan sang châu Âu, xuất hiện lần đầu vào năm 1830, rồi lại bùng phát vào năm 1848, và sau đó là một trận dịch khủng khiếp năm 1854. Bất kỳ mốc nào trong số này cũng đặt kiếp sống này ngay trước kiếp sống của Sharon ở Colorado - một kiếp sống ngắn ngủi, bình lặng khác. Ở Bavaria có các công quốc - lãnh thổ do các công tước cai trị - và cả Áo lẫn Bavaria đều trải qua những cuộc chiến ngắn trong giai đoạn này, nhiều lần phải huy động quân đội.

 

Tổng cộng, trong suốt một năm làm việc, tôi đã khám phá ra 26 kiếp sống của Katie, chứa đựng một kho thông tin phong phú về nhiều nền văn hóa và niềm tin tôn giáo khác nhau. Những kiếp sống này sẽ được sắp xếp lại trong một cuốn sách khác, nơi các mô thức nghiệp quả đan xen sẽ được lần theo.

 

Còn hiện tại, tiềm thức của cô vẫn đang “chơi trò trốn tìm”, từ chối đi sâu vào những kiếp sống mang ý nghĩa quan trọng đối với cô.

 

Trong suốt những tuần làm việc cùng nhau, tôi luôn có cảm giác rằng vẫn còn một điều gì đó khác, nằm ngay dưới bề mặt, mà Katie không muốn nói với tôi - một điều rất quan trọng đối với cô.


 


Đăng nhận xét